Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÙ LAO DUNG

TỈNH SÓC TRĂNG


Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày: 09-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Thành Tâm.

Nghề nghiệp: Công chức

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí

Ông Nguyễn Văn Giáp.

Nghề nghiệp: Giáo viên

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc, Thư ký Toà án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Văn Minh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-HS, ngày 19/3/2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Tấn Đ; sinh ngày 11/8/2005; tại C - Sóc Trăng Nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc TrăngNghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (s) và bà Huỳnh Thị T (s); Anh chị em ruột có: 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án; tiền sự: không. Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố D trong vụ án khác (Bị cáo có mặt).
  1. Đặng Quốc T1; sinh ngày 17/7/2006; tại C - Sóc TrăngNơi cư trú: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc TrăngNghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T2 (s) và bà Phùng Thị H (s); Anh chị em ruột có: 02 người, lớn nhất nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh là bị cáo; Tiền án; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/10/2023 cho đến nay (Bị cáo có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Quốc T1:

  1. Ông Đặng Văn T2, sinh năm 1966
  2. Bà Phùng Thị H1 năm 1966

Là cha, mẹ ruột của bị cáo T1

Nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quốc T1 : Luật sư Nguyễn Vũ P hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm T9(có mặt)

- Các bị hại:

  1. Bà Phạm Thị Bé T3, sinh năm 1979 (có mặt);

Cư trú tại: ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

  1. Chị Trương Thị Huỳnh N1, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Cư trú tại: số A, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

  1. Bà Phạm Thị T4, sinh năm 1972; (có mặt).

Cư trú tại: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 (vắng mặt);

Cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

  1. Bà Huỳnh Thị Bảo H2, sinh năm 1964 (vắng mặt).

Cư trú tại: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

  1. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Cư trú tại: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Ông Nguyễn Văn Đ1 năm 1973 (vắng mặt)

Cư trú tại: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

  1. Ông Võ T5 T5sinh năm 2004 ( vắng mặt).

Cư trú tại: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng hơn 11 giờ ngày 07/6/2023, sau khi đã trao đổi thống nhất qua điện thoại Trần Tấn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, biển kiểm soát 68G1 – 979.93 từ nhà đến rướt Đ(cả 02 cùng ở tại ấp B, xã A, huyện C nhau đi trộm cắp tài sản; khi đi T theo dao Thái Lan dắt vào lưng quần. Khi phát hiện nhà bà Phạm Thị B T3 thuộc ấp L, xã A, huyện C không có ai giữ nhà Đ2 đậu xe ngoài lộ, cả 02 đi bộ ra phía sau và đột nhập vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Sau khi vào được trong nhà Đ3 T1chia nhau tìm tài sản, Tlvào buồng ngủ thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đang sạc (của bà Phạm Thị B T3 thì lấy bỏ vào túi quần rồi đi lên nhà trước thấy trong tủ có điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen (của chị Trương Thị Huỳnh N1 và số tiền 660.000 đồng Triệu tiếp tục lấy điện thoại và số tiền nêu trên. Sau đó, Đlấy xe chở T1hướng về xã A để bán điện thoại thì bị Công an phát hiện mời về trụ sở làm việc, cả Đvà T6đều thừa nhận hành vi trộm cắp nêu trên.

Tại bản kết luận định giá số 36/KL.HÐÐGTTHS ngày 13/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ckết luận: 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Vivo, dung lượng bộ nhớ 64 GB, ram 4GB, kiểu máy V2027, màn hình cảm ứng, màu xanh (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 1.360.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số 37/KL.HÐÐGTTHS ngày 18/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ckết luận: 01 điện thoại đi động nhãn hiệu IPHONE XS Max, dung lượng bộ nhớ 64 GB, ram 4GB, màn hình cảm ứng, màu đen (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 4.260.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản Trần Tấn Đ4 Đặng Quốc T1trộm cắp ngày 07/6/2023 là 6.280.000 đồng.

Qua làm việc Trần Tấn Đvà Đặng Quốc T6 còn khai nhận ngoài lần phạm tội này Đvà T1 đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn huyện C như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ (không nhớ ngày) tháng 02 năm 2023, T1và Đđã đột nhập vào nhà bà Phạm Thị T4 thuộc ấp B, xã A, huyện C lấy được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung màu trắng. Sau đó, cả 02 đem đi bán tại Sóc Trăng chia nhau tiêu xài hết (không nhớ nơi bán và số tiền là bao nhiêu) nên không thu hồi được tài sản.

- Vụ thứ hai: Vào khoảng 13 giờ (không nhớ ngày) tháng 6 năm 2023, Tlvà Đđã đột nhập vào nhà ông Nguyễn Văn Đ5 ấp B, xã A, huyện C được 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME 3 màu xanh. Sau đó, T1đưa cho Đ6 đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài nhưng Đkhông bán mà để sử dụng.

Tại bản kết luận định giá số 44/KL.HÐÐGTTHS ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ckết luận: 01 điện thoại đi động nhãn hiệu REALME 3, dung lượng bộ nhớ 32 GB, Ram 3GB, màn hình cảm ứng, màu xanh (đã qua sử dụng) có giá trị tại thời điểm định giá là 800.000 đồng.

- Vụ thứ ba: Vào khoảng 15 giờ (không nhớ ngày) tháng 6 năm 2023, Tlvà Đđã đột nhập vào nhà ông Nguyễn Văn C1 ấp A, xã A, huyện C được 03 điện thoại di động đã cũ, trong đó có 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám và số tiền khoảng 300.000 đồng; Đ7 được 01 điện thoại di động cũ và số tiền 50.000 đồng. Sau đó, T6; Đlấy tiền chia nhau tiêu xài hết còn điện thoại do đã hư hỏng nên đã bỏ mất, không thu hồi được tài sản.

Ngoài ra, Đ11 tự khai nhận đã một mình thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp tài sản khác của bà Huỳnh Thị Bảo H2(ấp A, xã A ông Nguyễn Văn V(ấp B, xã A 04 cái điện thoại di động đã hư hỏng nên đã bỏ mất không thu hồi được.

Đối với các tài sản Đvà Triệu tự khai đã trộm cắp được, do bị hư hỏng nên quăng bỏ hoặc bán ở đâu không nhớ; các bị hại cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để định giá tài sản; Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ctừ chối định giá các tài sản nêu trên.

Sau khi tiếp nhận tin tố giác, Cơ quan cảnh sát điều tra C3 tiến hành điều tra, xác minh làm rõ và chứng minh được chính Trần Văn Đ2cùng với Đặng Quốc Tlđã trực tiếp lấy trộm tài sản tại nhà bà Phạm Thị B T3; bà Phạm Thị T4ông Nguyễn Văn Đ8 ông Nguyễn Văn C. Riêng Đặng Quốc Tlcòn một mình thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp tài sản khác của bà Huỳnh Thị B1 H1và ông Nguyễn Văn V

Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Tấn Đvà Đặng Quốc T6 để điều tra làm rõ vụ án; trong quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do các bị cáo đã gây ra.

Đối với các tài sản do Trần Tấn Đ và Đặng Quốc T1trộm cắp bị hư hỏng, đã bỏ hoặc đã bán ở đâu không nhớ, các bị hại cũng không cung cấp được các tài liệu để định giá tài sản; Hội đồng định giá từ chối định giá. Đồng thời, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi trên.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đvà T6 cùng khai nhận hành vi lén lút lấy trộm tại nhà bà Phạm Thị B T302 cái điện thoại di động và 660.000 đồng. Theo kết luận định giá tài sản đã xác định được tổng giá trị các bị cáo đã chiếm đoạt là 6.280.000 đồng

- Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-CLD, ngày 05/3/2024 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung để xét xử các bị cáo: Trần Tấn Đvà Đặng Quốc T6 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017(sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015).

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng số 05/CT-VKS-CLD, ngày 05/3/2024. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 17; khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Trần Tấn Đ. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 17; khoản 3 Điều 54 khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Đặng Quốc T6

Đề nghị xử phạt bị cáo: Trần Tấn Đ từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù; xử phạt bị cáo: Đ từ 03 (ba) đến 05 (năm) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do các bị cáo Đvà T1 đã tự thoả thuận bồi thường xong cho bà Phạm Thị T4 và bà T4 không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét giải quyết. Riêng đối với ông Nguyễn Văn V1 cầu bị cáo Đặng Quốc T7 bồi thường số tiền là 500.000 đồng; bà Huỳnh Thị B1 Hlyêu cầu bị cáo T6 phải bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo T6, người đại diện hợp pháp của bị cáo T1 đều thống nhất bồi thường theo yêu cầu của ông V2 bà H2 nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Tại cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho các bị hại và người có liên quan là chủ sở hữu hợp pháp số tài sản, đồ vật bị tạm giữ của bà Phạm Thị B T3; chị Trương Thị H3 N1 ông Nguyễn Văn Đlông Nguyễn Văn C2 ông Võ T5 T5 nên không đặt ra xét lại.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 02 cây dao cùng loại và có cùng đặc điểm (dao Thái lan) dài 21cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,5cm; mũi dao nhọn, phần lưỡi dao rộng nhất có số đo 1,8cm, dao có một cạnh sắc.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) cái điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, ốp lưng màu đỏ, màn hình cảm ứng ( đã qua sử dụng), do bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để phạm tội.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo T6 trình bày: Thống nhất về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải của bị cáo T6 tại phiên tòa, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên và bị cáo có người thân có công với Tổ quốc nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo T1 mức khởi điểm mà Kiểm sát viên đã đề nghị và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với các bị cáo.

- Tại Cơ quan điều tra; các bị hại Phạm Thị B T3 và T10 trình bày:

Các bị hại có bị mất trộm tài sản đúng như lời nhận tội của các bị cáo Đ4 T1. Do các bị hại Bé T3và Huỳnh N1 đã nhận lại đủ các loại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Riêng đối với ông Nguyễn Văn V3 bà Huỳnh Thị B1 H1 yêu cầu bị cáo Đặng Quốc T6 phải bồi thường giá trị tài sản bị mất là: 1.500.000 đồng (ông V4 500.000 đồng, bà H1là 1.000.000 đồng).

Các bị cáo nói lời sau cùng đều thống nhất với nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đồng thời, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để được sớm trở về giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại xuất trình chứng cứ phù hợp với quy định pháp luật; bị cáo, bị hại không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra C3 đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 98, 101, 102, 104, 105, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa, bị hại Trương Thị H3 N1và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và luật sư bào chữa đều đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên theo quy định của pháp luật.

[4] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo Trần Tấn Đvà Đặng Quốc T6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu hồi vật chứng, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, lời khai của các bị hại cũng như các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở kết luận vào ngày 07/6/2023 các bị cáo Đvà T1 đã đột nhập vào nhà của bị hại Phạm Thị B T3 lén lút chiếm đoạt 02 cái điện thoại di động và 660.000 đồng. Theo kết luận định giá tài sản đã xác định được tổng giá trị các bị cáo đã chiếm đoạt là 6.280.000 đồng. Nên các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

[5] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì tham lam, lười lao động nên các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người quản lý tài sản để thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội ở địa phương, tạo ra sự hoang mang, lo sợ làm cho nhân dân không an tâm lao động sản xuất. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng để làm gương cho người khác và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công rõ ràng nên chỉ là đồng phạm giản đơn và cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Trần Tấn Đ là người khởi xướng, nhắn tin, gọi điện rủ rê Đặng Quốc T6 và cũng là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nên cần có mức án cao hơn để làm gương cho người khác; bị cáo Đặng Quốc T6 là đồng phạm tích cực và trực tiếp thực hiện tội phạm, nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội là đúng quy định của pháp luật.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Tấn Đ9 người lớn tuổi hơn và cũng là người khởi xướng, gọi điện rủ rê, xúi giục bị cáo Tlcùng thực hiện tội phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015. Bị cáo Đặng Quốc T6 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự; Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn (Tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại), đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi có trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra, do bị cáo T6 là người nhỏ tuổi hơn bị cáo Đ, bị Đ10 rê lôi kéo, xúi giục mà phạm tội và có người thân có công với Tổ quốc, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 của BLHS 2015 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo T1là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Phạm Thị B T3; Trương Thị Huỳnh N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không đặt ra xem xét. Riêng đối với ông Nguyễn Văn V yêu cầu bị cáo T1 phải bồi thường tài sản bị thiệt hại là: 500.000 đồng; bà Huỳnh Thị B1 H1 yêu cầu bị cáo T1 phải bồi thường tài sản bị thiệt hại là: 1.000.000 đồng. Bị cáo Đặng Quốc T1và người đại diện hợp pháp thống nhất bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của những người nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9] Về xử lý vật chứng: Tại cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với chủ sở hữu hợp pháp số tài sản, đồ vật bị tạm giữ như: bà Phạm Thị B T3bà Trương Thị Huỳnh Nlông Nguyễn Văn Đông Nguyễn Văn C2 ông Võ T5 T5nên không đặt ra xét lại.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 02 cây dao cùng loại và có cùng đặc điểm (dao Thái lan) dài 21cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,5cm; mũi dao nhọn, phần lưỡi dao rộng nhất có số đo 1,8cm, dao có một cạnh sắc.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) cái điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, ốp lưng màu đỏ, màn hình cảm ứng ( đã qua sử dụng), do bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để phạm tội.

[10] Tại phiên tòa xét thấy lời đề nghị của vị Kiểm sát viên là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11]Tại phiên tòa, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thống nhất về tội danh, khung hình phạt của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 và tuyên mức án khởi điểm mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo T1 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng ý kiến của Luật sư đề nghị cho bị cáo Đặng Quốc T6 được hưởng án treo. Xét thấy, việc cho bị cáo T6 được hưởng án treo là chưa nghiêm, chưa đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Bởi vì, hiện nay tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C xảy ra ngày càng gia tăng không chỉ gây mất an ninh, trật tự tại địa phương mà còn làm cho quần chúng nhân dân hoang mang, lo sợ không an tâm lao động sản xuất gây bức xúc trong dư luận xã hội. Cho nên, việc cách ly bị cáo T1 ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đối với bị cáo, đồng thời giáo dục, răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội là cần thiết.

[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Tấn ĐĐặng Q T1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Trần Tấn Đ.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; Điều 91; Điều 101; khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Đặng Quốc T6

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Trần Tấn Đ: 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
  2. Xử phạt bị cáo Đặng Quốc T6 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện hoặc bắt thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 357, khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo: Đ liên đới cùng bà Phùng Thị H, ông Đặng Văn T2 có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn V số tiền là: 500.000đ; bà Huỳnh Thị B1 H1 số tiền là: 1.000.000 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông V5 H1 có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bị cáo Đặng Quốc T8 đới cùng bà H, ông T2 còn phải trả lãi cho các đương sự theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, đối với số tiền chậm thi hành án.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) cái điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, ốp lưng màu đỏ, màn hình cảm ứng ( đã qua sử dụng), do bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc để phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 02 cây dao cùng loại và có cùng đặc điểm (dao Thái lan) dài 21cm, cán bằng nhựa màu vàng dài 9,5cm; mũi dao nhọn, phần lưỡi dao rộng nhất có số đo 1,8cm, dao có một cạnh sắc.

Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng, ngày 05/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Tấn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Đặng Quốc t phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự trên phần bồi thường là 300.000 đồng.

  1. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo T6 biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Riêng đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện CLD;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện CLD;
  • - Chi cục THADS huyện CLD;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện CLD;
  • - Đội tổng hợp CA huyện CLD;
  • - Sở TP tỉnh Sóc Trăng;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản Trần Tấn Đạt - Đặng Quốc Triệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger