Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST

Ngày: 03/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải

2. Ông Võ Văn Tường

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Khang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: ông Trần Khánh Hỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ và Khu nhà làm việc Nhà tạm giữ - Công an huyện P, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

VÕ VĂN HIẾU, sinh ngày: 15/7/2001, tại Hậu Giang;

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang;

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Võ Văn C và bà Lê Thị G;

Tiền án: không

Tiền sự: 01. Ngày 30/6/2023, bị Công an xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/01/2024 đến nay. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Võ Thị Bích Q, sinh năm: 2006. Có mặt

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Ông Nguyễn Trường D, sinh năm: 1989. Vắng mặt

Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang

- Ông Nguyễn Quốc N, sinh năm: 1994. Vắng mặt

Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang

- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1999. Vắng mặt

Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang

- Bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1994

Nơi cư trú: ấp Nhơn Thuận 1, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

- Ấp 2A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Văn H bắt đầu sử dụng ma túy vào năm 2020, sau đó nghỉ sử dụng, đến ngày 21/01/2024, H tiếp tục sử dụng ma túy. Vào sáng ngày 25/01/2024, Võ Văn H đến nhà của Nguyễn Trường D tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang để phụ giúp công việc. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì H1 (chưa rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) điện thoại kêu H mua 500.000 đồng ma túy để sử dụng cùng với H1 thì H đồng ý. Trong lúc H ở nhà của D thì nhìn thấy bạn tên là N1 đến thì H nhờ N1 nhắn lại với một người tên T2 (chưa rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) là H chờ T2 ở cầu B (thuộc xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang) thì T2 sẽ biết (tức là T2 biết H mua ma túy của T2). Sau đó H lấy xe mô tô biển số 95E1-584.03 của D để đi mua trái cây giúp cho D và gặp T2. Khi H điều khiển xe mô tô đến cầu B thì gặp người tên T2 điều khiển xe mô tô loại xe Dream đi đến, H hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng và xin thuốc hút, T2 kêu H đưa 220.000 đồng thì H đồng ý, tiếp đó T2 chạy lên một đoạn để gói thuốc lá hiệu Jet ở giữa cầu và chỉ cho H vị trí gói thuốc rồi T2 bỏ đi. H chạy xe đến nhặt gói thuốc lên nhìn thấy bên trong có 01 gói ma túy nên cất vào trong áo khoác rồi đi tiếp về hướng cầu X. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến gần cầu X, H dừng lại lấy thuốc ra hút thì nhìn thấy bên trong có thêm 01 đoạn ống hút màu tím cùng với gói ma túy trước đó. H tiếp tục đi đến cầu L đối diện cây xăng thuộc ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ, dừng xe lại chờ H1, lúc này H cầm gói thuốc Jet trên tay trái, khi lực lượng Công an tiến hành kiểm tra thì H bỏ gói thuốc lá xuống mặt đường nhưng bị phát hiện thu giữ.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói nilon hàn kín chứa tinh thể không màu nghi là ma túy, 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím, hàn kín hai đầu chứa tinh thể không màu nghi là ma túy;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, gắn sim số 0932875024;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu N2 màu đen, gắn sim số 0799656235;

- 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET của Võ Văn H dùng để cất giấu ma túy;

- 01 (một) lưỡi lam màu trắng là của Võ Văn H dùng để cắt gói ma túy;

- 01 (một) quẹt gas màu tím của Võ Văn H dùng để sử dụng ma túy;

- 01 (một) xe mô tô biển số 95E1-584.03.

Căn cứ kết luận giám định số 29/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận: tổng khối lượng ma túy là 0,3094 gam gồm: 01 (một) gói nilon không màu, hàn kín chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu M1) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2133 gam; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu tím, hàn kín hai đầu chứa tinh thể không màu (ký hiệu mẫu M2) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0961 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng M1: 0,1922 gam, M2: 0,0775 gam được niêm phong số 29/KL-KTHS.

Đối với người tên T2 bán ma túy cho Võ Văn H, người tên H1 nhờ Võ Văn H mua ma túy về sử dụng và người tên N1 thì H chỉ quen biết nhau ngoài xã hội nên không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, thành phố Cần Thơ đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa tiến hành mời làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Đối với số tiền 200.000 đồng do Phạm Thị T1 đưa cho H đi mua trái cây mà H sử dụng số tiền này mua ma túy sử dụng. Bà Phạm Thị T1 không yêu cầu H trả lại cho T1.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu S, màu xanh là của Nguyễn Thị Thanh T3 khi đi Hàn Quốc thì có gửi sửa tại tiệm điện thoại di động của anh Nguyễn Văn Vũ T4. Sau đó, cho tặng Võ Văn H và kêu đến tiệm điện thoại để nhận. Khi nhận điện thoại về thì H có cho Võ Thị Bích Q là em gái để sử dụng, đến ngày 25/01/2024, thì Q có nhờ H đi sửa điện thoại dùm. Đối với sim 0932875024 là của H trước đó được gắn vào điện thoại hiệu N2 để liên lạc sử dụng ma túy. Quyền không biết, không tạo điều kiện cho H thực hiện hành vi phạm tội, lời khai của Q và H phù hợp với nhau.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia là của Võ Văn H trước đó gắn sim 0932875024 để liên lạc với H1 để sử dụng ma túy; đối với sim 0799656235 là của Nguyễn Thị Thanh T3 khi cho Võ Văn H thì có sẵn sim điện thoại trong điện thoại nhưng không sử dụng.

Đối với 01 xe mô tô biển số 95E1-584.03 qua xác minh chủ sử hữu là chị Nguyễn Thị T3 kết hôn với Nguyễn Quốc N đến năm 2021 thì ly hôn và T3 giao xe cho N sử dụng. Sau đó N bán xe lại cho Nguyễn Trường D nhưng không làm hợp đồng mua bán. Đến ngày 25/01/2024 thì Nguyễn Thị Ú (mẹ D) có đưa xe cho Võ Văn H đi mua trái cây nhưng H sử dụng xe này để đi mua ma túy. Bà Ú không biết, không tạo điều kiện cho H thực hiện hành vi phạm tội, lời khai của bà Ú và H phù hợp với nhau. Do chưa làm việc được chủ sở

hữu hợp pháp là Nguyễn Thị T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện P tạm giữ xe mô tô 95E1-584.03 để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 (một) quẹt gas màu tím; 01 (một) lưỡi lam màu trắng là của H mang theo nhằm sử dụng trái phép chất ma túy; 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET dùng để đựng ma túy khi H mua từ người tên T2.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS-PĐ ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo không có khiếu nại đối với các hành vi và các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào sáng ngày 25/01/2024, bị cáo đến nhà của Nguyễn Trường D tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang để phụ giúp công việc. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì H1 (chưa rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) điện thoại kêu bị cáo mua 500.000 đồng ma túy để sử dụng cùng với H1 thì bị cáo đồng ý. Trong lúc bị cáo ở nhà của D thì nhìn thấy bạn tên là N1 đến, bị cáo nhờ N1 nhắn lại với một người tên T2 (chưa rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) là bị cáo chờ T2 ở cầu B (thuộc xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang) thì T2 sẽ biết (tức là T2 biết bị cáo mua ma túy của T2). Sau đó bị cáo lấy xe mô tô biển số 95E1-584.03 của D để đi mua trái cây giúp cho D và gặp T2. Khi bị cáo điều khiển xe mô tô đến cầu B thì gặp người tên T2 điều khiển xe mô tô loại xe Dream đi đến, bị cáo hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng và xin thuốc hút, T2 kêu bị cáo đưa 220.000 đồng thì bị cáo đồng ý, tiếp đó T2 chạy lên một đoạn để gói thuốc lá hiệu Jet ở giữa cầu rồi chỉ cho bị cáo vị trí gói thuốc và T2 bỏ đi. Bị cáo chạy xe đến nhặt gói thuốc lên nhìn thấy bên trong có 01 gói ma túy nên cất vào trong áo khoác rồi đi tiếp về hướng cầu X. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến gần cầu X, bị cáo dừng lại lấy thuốc ra hút thì nhìn thấy bên trong có thêm 01 đoạn ống hút màu tím cùng với gói ma túy trước đó. Bị cáo tiếp tục đi đến cầu L đối diện cây xăng thuộc ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ, dừng xe lại chờ H1, lúc này bị cáo bị lượng Công an tiến hành kiểm tra và phát hiện nên bắt giữ bị cáo cùng với tang vật. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

[3] Khi phát biểu trong phần tranh luận: đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường số tiền 200.000đ cho bà Phạm Thị T1.

[4] Hội đồng xét xử đối chiếu lời khai của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Bị cáo có hành vi tàng trái phép ma túy để sử dụng, không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, vận chuyển với khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,3094 gam loại Methamphetamine được chứa trong 2 gói gồm gói 1 có khối lượng 0,2133 gam và gói 2 có khối lượng 0,0961 gam, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều đó chứng tỏ, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo đã thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách của nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: mặc dù bà Phạm Thị T1 không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 200.000đ nhưng tại phiên tòa bị cáo tự nguyện trả lại cho bà T1 số tiền 200.000đ, xét đây là sự tự nguyện của bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng, đối với số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng gồm gói ký hiệu M1 là 0,1922 gam và gói ký hiệu M2 là 0,0775 gam, loại Methamphetamine được niêm phong trong gói niêm phong số 29/KL - KTHS ngày 02/02/2024, 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET dùng để cất giấu ma túy, 01 (một) lưỡi lam màu trắng, 01 (một) quẹt gas màu tím, sim số 0932875024 cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S và sim số 0799656235 do Võ Thị Bích Q không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử thống nhất trả lại cho bà Q.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công;

Đối với 01 xe mô tô biển số 95E1-584.03, do chưa làm việc được với chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị T3, nên cần giao cho Công an huyện P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[7] Đối với người tên T2 bán ma túy cho bị cáo, người tên H1 nhờ bị cáo mua ma túy về sử dụng và người tên N1, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P tiếp tục điều tra, làm rõ, đủ cơ sở xử lý sau.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Võ Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt: bị cáo Võ Văn H 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 25/01/2024.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho bà Phạm Thị T1 số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định có khối lượng gồm gói 1 được ký hiệu M1 có khối lượng là 0,1922 gam và gói 2 được lý hiệu là M2 có khối lượng là 0,0775 gam, loại Methamphetamine được niêm phong trong gói niêm phong số 29/KL - KTHS ngày 02/02/2024, 01 (một) bao thuốc lá hiệu JET dùng để cất giấu ma túy, 01 (một) lưỡi lam màu trắng, 01 (một) quẹt gas màu tím, 01 (một) sim số 0932875024.

Trả lại cho Võ Thị Bích Q 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung và 01 (một) sim số 0799656235.

Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia của bị cáo Võ Văn H;

Tạm giao 01 xe mô tô biển số 95E1-584.03 cho Công an huyện P tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - Phồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT;
  • - Sở tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Chi cục THADS H. Phong Điền;
  • - CQĐT Công an H. Phong Điền;
  • - Chi cục thuế H. Phong Điền;
  • - Cục Hải quan Cần Thơ;
  • - Đội CSTHAHS H.PD;
  • - Lưu HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ THU AN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger