Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/KDTM -ST

Ngày: 02/8/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và bà Lê Thị Đông Nguyệt.-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 02/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 22/2024/TLST-KDTM ngày 09/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXX-ST ngày 03/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-KDTM ngày 16/7/2024/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á; Trụ sở chính: Lầu 8 Toà nhà ABC, 444A-446 Cách Mạng tháng 8, Phường A, quận C, TP Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Từ P - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Chánh T – Nhân viên xử lý nợ và ông Võ Văn X – Nhân viên. Địa chỉ liên lạc: 16 P, Phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai (Văn bản uỷ quyền số 152/UQ-QLN.24, ngày 30/01/2024 và 309/UQ-QLN.24 ngày 05/3/2024). Ông T vắng mặt, ông Xanh có mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Toàn T1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1983. Địa chỉ: C T, Phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên;

Đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N, sinh năm 1955 và ông Võ T3, sinh năm 1953; Địa chỉ: Địa chỉ: C T, Phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Bà N có mặt, ông T3 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện nhận ngày 04/10/2023, quá trình thu thập tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Võ Văn X trình bày: Giữa Ngân hàng Á (gọi tắt là A) và ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2 đã ký kết các Hợp đồng tín dụng sau:

  1. A cung cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2 căn cứ theo: Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHY.CN.427.260618 ngày 26/6/2018; Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.459.260618 ngày 28/6/2018. Số tiền cho vay 1.000.000.000 đồng. Mục đích cho vay xây mới nhà và mua sắm trang thiết bị nội thất, thời hạn cho vay: 120 tháng. Lãi suất 10.2%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm. Giải ngân ngày 04/7/2018 số tiền 500.000.000 đồng và 05/9/2018 số tiền 500.000.000 đồng.
  2. A cung cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2 căn cứ theo: Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHY.CN.2405.190521 ngày 26/6/2018; Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.2405.190521 ngày 22/5/2021; Số tiền cho vay 500.000.000 đồng, mục đích mua sắm tiêu dùng. Thời hạn cho vay 84 tháng. Lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm. Giải ngân ngày 24/5/2021.
  3. A cung cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2 căn cứ theo: Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHY.CN.829.170622 ngày 17/6/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.716.080922 ngày 09/9/2022; Số tiền cho vay 3.800.000.000 đồng. Mục đích vay bổ sung vốn lưu động, thời hạn cho vay 09 tháng. Lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm theo 08 phiếu nhận nợ.
  4. A cung cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1 căn cứ theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 03/12/2019; Bản các điều kiện khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A; Các văn bản khác do ông T1 ký với A; Hạn mức thẻ 500.000.000 đồng.
  5. A cung cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà nguyễn Thị T4 chủ thẻ phụ căn cứ theo: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 13/02/2020, Bản các điều kiện khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, Các văn bản khác do ông T1 ký với A. Hạn mức thẻ 100.000.000 đồng.
  6. A cung cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1 căn cứ theo: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/6/2021, Bản các điều kiện khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, Các văn bản khác do ông T1 ký với A. Hạn mức thẻ 500.000.000 đồng.

Các thẻ cấp tín dụng được dùng vào mục đích tiêu dùng. Lãi suất, lãi trong hạn và phí phát sinh của thẻ tín dụng theo từng thời kỳ, được niêm yết công khai và áp dụng cho mọi khách hàng trên hệ thống của Ngân hàng TMCP Á.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng, ông T1 và bà T4 vi phạm nghĩa vụ trả nợ với A. Do đó, căn cứ thoả thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn. Ngày 09/12/2023, A ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của các khế ước nhận nợ.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: C T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Võ T3, bà Trần Thị N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 577547, số vào số cấp GCN: CH00818 do UBND thành phố T cấp ngày 09/3/2016. Hợp đồng thế chấp ngày 27/6/2018, các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-01, ngày 27/11/2019, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-02,ngày 23/3/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-03, ngày 22/5/2021,Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-04, ngày 09/9/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Á và ông Võ T3, bà Trần Thị N và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Phú Yên ngày 27/6/2018, Giấy phép xây dựng số 542/GPXD do U cấp ngày 14/6/2018 và Cam kết thế chấp thế chấp tài sản ngày 27/6/2018.

A xác định các khoản vay của thẻ tín dụng cá nhân là nghĩa vụ chung của vợ chồng ông T1 và bà T4 căn cứ tại Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình quy định khoản nợ phát sinh từ giao dịch cho vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP Á tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 02/8/2024 là 6,238,924,969 (Bằng chữ: Sáu tỷ, hai trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, chín trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó: Nợ gốc 5,369,244,390 đồng, lãi trong hạn 177,846,824 đồng, lãi quá hạn 669,899,172 đồng, phạt chậm trả lãi 21,934,583 đồng theo Các Hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng được ký kết giữa ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2Ngân hàng A (Chi tiết Bảng tính lãi theo khách hàng tính đến ngày 02/8/2024 do Ngân hàng A cung cấp).

Buộc ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục trả tiền lãi, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A kể từ ngày 03/8/2024 đến ngày trả hết nợ.

Nếu ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm sau đây được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: C T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 577547, số vào số cấp GCN: CH00818 do UBND thành phố T cấp ngày 09/3/2016 cấp cho ông Võ T3, bà Trần Thị N theo Hợp đồng thế chấp ngày 27/6/2018, các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-01, ngày 27/11/2019, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-02, ngày 23/3/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-03, ngày 22/5/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-04, ngày 09/9/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Á và ông Võ T3, bà Trần Thị N, Giấy phép xây dựng số 542/GPXD do U cấp ngày 14/6/2018 và Cam kết thế chấp tài sản ngày 27/6/2018.

* Quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ T3 đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N trình bày: Vợ chồng T1T2 vay tiền tại ngân hàng TMCP Á mục đích để mua bán bất động sản và kinh doanh H. Các khoản vay của T1, T2 dùng chính vào mục đích này. T1T2 trực tiếp làm cùng nhau. Hiện nay, T1T2 đang đi làm ăn xa. Bà N và ông T3 thế chấp tài sản để bảo đảm cho khoản vay của T1T2 là 4.800.000.000 đồng không bao gồm các khoản vay thẻ tín dụng của T1T2. Trường hợp T1T2 không trả nợ được thì Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật. Ông T3 vì lý do sức khoẻ nên không đến tham dự được. Tại phiên toà, bà N xin kéo dài thời gian để gia đình bán nhà trả nợ cho Ngân hàng và xin ngân hàng K lãi để không phát sinh thêm dư nợ.

Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tiến hành mở phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn không chấp hành giấy triệu tập của Toà án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 4 Luật Thương mại, Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ 1 lần cho ngân hàng số tiền 5.369.244.390 đồng, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ông T1 và bà T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi kể từ sau ngày tuyên án đối với khoản nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trường hợp ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: C T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Võ T3, bà Trần Thị N theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 577547, số vào số cấp GCN: CH00818 do UBND thành phố T cấp ngày 09/3/2016 và 01 ngôi nhà cấp 3 theo Giấy phép xây dựng số 542/GPXD do U cấp ngày 14/6/2018. Số tiền phát mãi được trả cho ngân hàng TMCP Á, số tiền còn thừa sẽ trả cho ông T3 và bà N. Trường hợp tiền phát mãi không đủ để trả nợ thì ông T1 và bà T2 phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa cá nhân và tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp kinh doanh thương mại. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh và cá nhân đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp về kinh doanh thương mại, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

[2.1] Ngân hàng TMCP Á yêu cầu bị đơn phải trả nợ theo các Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng sau:

[2.1.1] Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHY.CN.427.260618 ngày 26/6/2018; Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.459.260618 ngày 28/6/2018 tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2, số tiền cho vay 1.000.000.000 đồng. Mục đích xây mới nhà và mua sắm trang thiết bị nội thất, thời hạn cho vay: 120 tháng. Lãi suất 10.2%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm. Giải ngân ngày 04/7/2018 số tiền 500.000.000 đồng và 05/9/2018 số tiền 500.000.000 đồng, kiêm khế ước nhận nợ số [...] ngày 04/7/2018 và số [...] ngày 05/9/2018. Số tiền còn nợ: 766.427.258 đồng, trong đó: nợ gốc 661.488.694 đồng, lãi trong hạn 25.855.779 đồng, lãi quá hạn 75.895.047 đồng, phạt chậm trả lãi 3.187.739 đồng.

[2.1.2] Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHY.CN.2405.190521 ngày 26/6/2018; Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.2405.190521 ngày 22/5/2021, kiêm khế ước nhận nợ số [...] ngày 24/5/2021 cấp tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2. Số tiền cho vay 500.000.000 đồng, mục đích mua sắm tiêu dùng. Thời hạn cho vay 84 tháng. Lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm. Còn nợ số tiền: 386.389.046 đồng, trong đó: nợ gốc 333.344.000 đồng, lãi trong hạn 13.133.784 đồng, lãi quá hạn 38.296.955 đồng, phạt chậm trả lãi 1.614.307 đồng.

[2.1.3] Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHY.CN.829.170622 ngày 17/6/2022; Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.716.080922 ngày 09/9/2022 tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2. Số tiền cho vay 3.800.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động, thời hạn cho vay 09 tháng. Lãi suất 10,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, lãi suất phạt chậm trả 10%/năm theo 08 phiếu nhận nợ; kiêm khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/5/2023, số [...] ngày 12/5/2023, 397492559 ngày 15/5/2023, số [...] ngày 16/5/2023, số [...] ngày 18/5/2023; số [...] ngày 19/5/2023, số [...] ngày 25/5/2023 và số [...] ngày 31/5/2023. Số tiền còn nợ: 4.359.784.044 đồng, trong đó: nợ gốc 3.800.000.000 đồng, lãi trong hạn 138.857.261 đồng, lãi quá hạn 403.794.247 đồng, phạt chậm trả lãi 17.132.537 đồng.

[2.1.4] Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 13/2/2020 cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2. Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, Các văn bản khác do ông T1 ký với A. Hạn mức thẻ 100.000.000 đồng. Số tiền còn nợ: 128.084.630 đồng, trong đó: nợ gốc 103.258.012 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 24.826.618 đồng, phạt chậm trả lãi 0 đồng.

[2.1.5] Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 03/12/2019 cho ông Võ Toàn T1; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A; Các văn bản khác do ông T1 ký với A; Hạn mức thẻ 500.000.000 đồng. Số tiền còn nợ: 597.253.874 đồng, trong đó: nợ gốc 470.167.567 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 127.086.307 đồng, phạt chậm trả lãi 0 đồng.

[2.1.6] Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 04/6/2021 cho ông Võ Toàn T1, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A, Các văn bản khác do ông T1 ký với A. Hạn mức thẻ 500.000.000 đồng. Số tiền còn nợ: 986.117 đồng, trong đó: nợ gốc 986.117 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 0 đồng, phạt chậm trả lãi 0 đồng.

Tổng số tiền 6.238.924.969 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ, hai trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, chín trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó: nợ gốc 5.369.244.390 đồng, lãi trong hạn 177.846.824 đồng, lãi quá hạn 669.899.172 đồng, phạt chậm trả lãi 21.934.583 đồng (tính đến ngày 02/8/2024).

Hợp đồng tín dụng và các Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp quy định của pháp luật, do đó có hiệu lực thi hành đối với các bên.

[2.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nêu trên.

[2.3] Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Cụ thể, bị đơn đã vi phạm quy định tại Điều 2 của Khế ước nhận nợ quy định “ngày trả lãi và/ hoặc gốc mỗi kỳ được trả vào ngày 05 hàng tháng”. Đối chiếu theo quy định tại khoản 6.1.4 Điều 6 Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung về cấp tín dụng số PHY.CN.427.260618 ngày 26/6/2018 quy định các trường hợp chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn. Nên ngày 09/12/2023, A ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của các khế ước nhận nợ. Như vậy ngân hàng đã thông báo chấm dứt cho vay thu hồi nợ, thông báo khoản vay của bị đơn đã chuyển sang nợ quá hạn và Ngân hàng áp dụng lãi suất quá hạn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và sự thỏa thuận của các bên.

[2.4] Các thẻ tín dụng cá nhân có mục đích tiêu dùng, các khoản vay của bị đơn đều có mục đích để mua bán bất động sản và kinh doanh H, do chính T1T2 trực tiếp làm cùng nhau. Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình “Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình” nên có cơ sở xác định các khoản vay thẻ tín dụng là nghĩa vụ chung của vợ chồng T1T2.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, cần buộc bị đơn ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Á tổng số tiền 6.238.924.969 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ, hai trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, chín trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó: nợ gốc 5.369.244.390 đồng, lãi trong hạn 177.846.824 đồng, lãi quá hạn 669.899.172 đồng, phạt chậm trả lãi 21.934.583 đồng (tính đến ngày 02/8/2024).

[2.5] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà N xin khoanh lãi để không tăng thêm dư nợ, tuy nhiên Ngân hàng chỉ có chính sách giảm lãi khi trả xong nợ và phải trình lãnh đạo xét duyệt. Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên không quyết định được. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[3] Đối với hợp đồng thế chấp số PHY.BĐCN.220.260618 ngày 27/6/2018, các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-01, ngày 27/11/2019, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-02,ngày 23/3/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-03,ngày 22/5/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-04, ngày 09/9/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Á và ông Võ T3, bà Trần Thị N thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: C T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 577547, số vào số cấp GCN: CH00818 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp ngày 09/3/2016 cho ông Võ T3, bà Trần Thị N được công chứng tại Văn phòng công chứng thành phố T, tỉnh Phú Yên ngày 27/6/2018. Tài sản thế chấp này được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Phú Yên ngày 27/6/2018. Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật dân sự, hợp đồng thế chấp này có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.

[3.1] Tại Điều 3 về Nghĩa vụ được bảo đảm của Hợp đồng thế chấp quy định: “3.1 Toàn bộ các nghĩa vụ vụ trả nợ của Bên được cấp tín dụng với A (gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, các khoản phải trả khác) theo các hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng hoặc cam kết bảo lãnh, kể cả trường hợp phát sinh sau thời điểm ký hợp đồng này...”.

[3.2] Theo quy định tại Điều 301 Bộ luật dân sự về Giao tài sản bảo đảm để xử lý quy định: “Người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận tài sản bảo đảm khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”. Khoản 1 Điều 299 Bộ luật dân sự quy định Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm khi “đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

[3.3] Theo quy định tại Điều 8 Hợp đồng thế chấp quy định “8.1 ACB được quyền xử lý tài sản thế chấp trong các trường hợp: 8.1.1 Khi nghĩa vụ đến hạn mà Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ được bảo đảm”.

[3.4] Đối chiếu các quy định của pháp luật và sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thế chấp, xét thấy ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N cho rằng chỉ thế chấp tài sản để đảm bảo cho khoản vay 4.800.000.000 đồng là không có cơ sơ để xem xét. Do đó, Ngân hàng yêu cầu có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.

Trường hợp ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17, diện tích 124,6m² địa chỉ: C T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 577547, số vào sổ cấp GCN: CH00818 do UBND thành phố T cấp ngày 09/3/2016 cho ông Võ T3 và bà Trần Thị N theo Hợp đồng thế chấp tài sản các bên đã ký kết.

[4] Về chi phí tố tụng: Khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được chấp nhận”. Do đó, bị đơn phải chịu 2.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng nên bị đơn phải hoàn lại cho nguyên đơn.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 4 Luật thương mại; Điều 299, 317, 318, 319, 323, 325, 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Á.

Buộc bị đơn ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải trả nợ vay cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Á tổng số tiền: 6.238.924.969 đồng (Bằng chữ: Sáu tỷ, hai trăm ba mươi tám triệu, chín trăm hai mươi bốn nghìn, chín trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó: nợ gốc 5.369.244.390 đồng, lãi trong hạn 177.846.824 đồng, lãi quá hạn 669.899.172 đồng, phạt chậm trả lãi 21.934.583 đồng (tạm tính đến ngày 02/8/2024) về khoản tranh chấp Hợp đồng tín dụng, cụ thể:

Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.427.260618 ngày 26/6/2018 tín dụng và Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.459.260618 ngày 28/6/2018 cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2, kiêm khế ước nhận nợ số [...] ngày 4/7/2018 và số [...] ngày 05/9/2018, còn nợ số tiền: 766.427.258 đồng, trong đó: nợ gốc 661.488.694 đồng, lãi trong hạn 25.855.779 đồng, lãi quá hạn 75.895.047 đồng, phạt chậm trả lãi 3.187.739 đồng.

Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.2405.190521 ngày 22/5/2021 tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2, kiêm khế ước nhận nợ số [...] ngày 24/5/2021; còn nợ số tiền: 386.389.046 đồng, trong đó: nợ gốc 333.344.000 đồng, lãi trong hạn 13.133.784 đồng, lãi quá hạn 38.296.955 đồng, phạt chậm trả lãi 1.614.307 đồng.

Hợp đồng cấp tín dụng số PHY.CN.716.080922 ngày 09/9/2022 tín dụng cho ông Võ Toàn T1, bà Nguyễn Thị T2, kiêm khế ước nhận nợ số [...] ngày 11/5/2023, số [...] ngày 12/5/2023, 397492559 ngày 15/5/2023, số [...] ngày 16/5/2023, số [...] ngày 18/5/2023; số [...] ngày 19/5/2023, số [...] ngày 25/5/2023 và số [...] ngày 31/5/2023, còn nợ số tiền: 4.359.784.044 đồng, trong đó: nợ gốc 3.800.000.000 đồng, lãi trong hạn 138.857.261 đồng, lãi quá hạn 403.794.247 đồng, phạt chậm trả lãi 17.132.537 đồng.

Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 13/2/2020, còn nợ số tiền: 128.084.630 đồng, trong đó: nợ gốc 103.258.012 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 24.826.618 đồng, phạt chậm trả lãi 0 đồng.

Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 03/12/2019, còn nợ số tiền: 597.253.874 đồng, trong đó: nợ gốc 470.167.567 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 127.086.307 đồng, phạt chậm trả lãi 0 đồng.

Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 04/6/2021, còn nợ số tiền: 986,117 đồng, trong đó: nợ gốc 986,117 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn 0 đồng, phạt chậm trả lãi 0 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 02/8/2024), bị đơn ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, phạt chậm trả lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay này. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, bị đơn không trả nợ hoặc trả không đúng và đủ như đã cam kết thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 17, diện tích 124,6m², địa chỉ: C T, phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 577547, số vào sổ cấp GCN: CH00818 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp ngày 09/3/2016 cho ông Võ T3 và bà Trần Thị N theo Hợp đồng thế chấp số PHY.BĐCN.220.260618 ngày 27/6/2018, các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-01, ngày 27/11/2019, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-02,ngày 23/3/2020, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-03,ngày 22/5/2021, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số PHY.BĐCN.220.260618/SĐBS-04, ngày 09/9/2022 được ký kết giữa các bên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Số tiền phát mãi được trả cho Ngân hàng TMCP Á, số tiền còn thừa sẽ trả cho ông T3 và bà N. Trường hợp tiền phát mãi không đủ để trả nợ thì ông T1 và bà T2 phải tiếp tục trả cho đến khi hết nợ.

Trường hợp ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 trả nợ xong thì Ngân hàng thương mại cổ phần Á phải có trách nhiệm trả lại cho ông Võ T3 và bà Trần Thị N tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp mà hai bên đã ký kết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Toàn T1 và bà Nguyễn Thị T2 phải chịu 114.239.000 (Một trăm mười bốn triệu, hai trăm ba mươi chín nghìn) đồng.

Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Á số tiền 56.820.000 (Năm mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002443 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Về chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 2.000.000 đồng nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hòa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hô sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Thuỳ Trân

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Phan Thị Oanh

Lê Thị Đông Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2024/KDTM -ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2024/KDTM -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA NH- THIỆN, THẮM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger