|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2024/DS-ST
Ngày: 01-7-2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quý Khiêm;
Ông Trần Ngọc Đằng;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 06, ngày 27 tháng 5, ngày 21 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Hồ Thị K, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Khóm D, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn:
- Lê Văn C, sinh năm 1940;
- Phan Thị T1, sinh năm 1940 (đã chết năm 2022);
- Lê Minh Đ, sinh năm 1977;
- Lê Thị H, sinh năm 1979;
- Lê Văn L, sinh năm 1970;
- Dương Thị Mỹ C1, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông C, anh Đ, chị H, ông L, bà C1: Ông Dương Hoàng V, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Số D, T, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ: Số C, đường C, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Hồ Thị Ngọc H1, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Thái Văn C2, sinh năm 1962;
- Thái Thị Thúy H2, sinh năm 1978;
- Thái Toàn T2, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Tổ E, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Hồ Thị Kiều N, sinh năm 1980.
- Hồ Hoàng G, sinh năm 1983.
- Hồ Thị Cẩm N1, sinh năm 1987.
- Hồ Quang S, sinh năm 1982.
- Hồ Thị Cẩm L1, sinh năm 1995.
Cùng địa chỉ: Số A, P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hồ Quang V1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Trần Thị K1, sinh năm 1962;
- Nguyễn Thị S1, sinh năm 1956;
- Hồ Quang L2, sinh năm 1978;
- Lê Minh N2, sinh năm 1998;
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Trương Minh T3, sinh năm 1964;
Địa chỉ: Số nhà C, tổ A, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Lê Thị L3, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Ấp F, K, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Hoàng V, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Số D, T, phường D, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Hồ Thị K và người đại diện hợp pháp ông Lê Ngọc T trình bày:
Năm 2000, chị K được bà nội Hồ Thị H3 cho diện tích 3.512,3m² đất. Năm 2001, chị K tạm giao cho cha là Hồ Văn D mượn đất sử dụng. Năm 2004, ông D chết. Năm 2005, chị K đăng ký quyền sử dụng đất, lúc đăng ký ông C có ký tên xác định ranh, ông C ký tên và hộ ông C không có tranh chấp đất với chị K (lúc này ông L ở chung hộ với ông C). Ngày 24/2/2009, chị K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2008, ông C nói đất của chị K cho cha mượn, cha chị K đã cố cho ông C, chị K làm đơn kiện ông C, bà T1. Toà án đã đến diện tích đất tranh chấp để đo đạc thì con của ông C, bà T1 là ông Lê Văn L nói có sử dụng diện tích 219m² do cha chị K là ông Hồ Văn D chuyển nhượng là không đúng, đất là do hộ ông L tự bao chiếm trái phép vào cuối năm 2004 để sử dụng sau khi cha của chị K chết. Nên chị K yêu cầu Tòa án giải quyết theo hiện trạng hiện nay diện tích đất:
- + Buộc hộ ông Lê Văn C, bà Phan Thị T1, anh Lê Minh Đ trả lại diện tích đất là 1.851,3m², tờ bản đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T.
- + Buộc hộ ông Lê Văn L, bà Dương Thị Mỹ C1 phải trả lại cho chị K diện tích đất đã chiếm là 276,6m², tại tờ bán đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T.
- + Đối với các loại cây trên diện tích đất tranh chấp được thể hiện qua biên bản xem xét thẩm định tại chỗ; chị K không yêu cầu ông L, bà Mỹ C1 trả lại các loại cây trên đất, đồng ý nếu Tòa án giải quyết giao phần đất tranh chấp này cho ai thì người đó được sử dụng, chị K không đồng ý tiếp tục thực hiên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì không có mua bán đất với ông L và ông C.
Ông Lê Ngọc T là người đại diện hợp pháp của chị K trình bày: Trước đây năm 2008 - 2009 chị K có kiện ông C và ông Võ Văn H4 để đòi lại phần đất mà ông C cho rằng bà H3 có cố đất cho chị K nên chị K kiện ông C và bản án đã được thi hành xong cho chị K. Còn trong vụ kiện này thì ông C và ông L cho rằng bà H3 và ông D đã chuyển nhượng cho ông C và ông L nhưng chứng cứ mà ông C và ông L đưa ra đã có kết quả giám định chử ký không phải của chị K và ông D. Chị K xác định không có việc bà H3, ông D và chị K cố đất hay chuyển nhượng đất cho ông C và ông L nên nay chị K yêu cầu ông C và ông L trả lại phần diện tích đất 2.127,9m². Về cây trồng trên đất thì chị K xác định là chị K thuê ông Nguyễn Văn H5 và ông Nguyễn Văn M lên liếp trồng xoài từ năm 2001.
Nay chị K yêu cầu giải quyết:
- + Buộc hộ ông Lê Văn C, bà Phan Thị T1, anh Lê Minh Đ trả lại diện tích đất là 1.851,3m², tờ bản đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T, thành phố C, trong phạm vi các mốc 1 – 2 – 3 – 4 – 10 – 11 – 12 trở về mốc 1.
- + Buộc hộ ông L, bà Mỹ C1 phải trả lại cho chị K diện tích đất đã chiếm là 276,6m², tại tờ bán đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T, thành phố C, trong phạm vi các mốc 4 -5-6-7-8– 9 – 10 trở về mốc 4.
Đất tranh chấp được thể hiện qua sơ đồ thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Đối với yêu cầu phản tố của ông Lê Văn C và ông Lê Văn L thì chị K không đồng ý. Vì chị K cho rằng không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ H3, ông D và chị K với ông C và ông L.
- Bị đơn ông Lê Văn C, ông Lê Minh Đ, bà Lê Thị H, ông Lê Văn L, bà Dương Thị Mỹ C1 và người đại diện hợp pháp ông Dương Hoàng V trình bày:
Ông Lê Văn C trình bày: Phần đất đang tranh chấp ông C đang sử dụng là căn cứ theo hợp đồng ngày 04/10/1997 giữa ông Lê Văn L và bà Hồ Thị H3, người thừa kế ông Hồ Văn D nhận chuyển nhượng phần đất chiều ngang 10m, chiều dài 56m, với giá 16 chỉ vàng 24k.
Ngày 01/10/2002, bà Hồ Thị H3, ông Hồ Văn D, chị Hồ Thị K có bán diện tích đất là 1 công 12 cho ông C, với số vàng là 30 chỉ vàng 24k, đã đưa đủ số vàng, hai bên có làm tờ sang nhượng đất ký tên có sự đồng ý của bà H3, ông D, chị K cùng ký tên. Nay ông C ủy quyền cho ông Dương Hoàng V không đồng ý theo yêu cầu của chị K.
Bị đơn bà Phan Thị T1 trước đây đã tham gia tố tụng. Năm 2022, bà T1 chết nên những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T1 bao gồm ông C và các con của ông C, bà T1 là anh Đ, chị H, ông L, bà L3.
Người đại diện hợp pháp của ông C là ông Dương Hoàng V trình bày: Không đồng ý theo yêu cầu của chị K vì ngày 04/10/1997 ông C có nhận chuyển nhượng của bà H3 và ông D phần đất chiều ngang 10m, chiều dài 56m, nhưng để cho ông Lê Văn L (là con của C) đứng tên trong giấy tờ mua bán; ông C là người giao vàng chuyển nhượng. Đến ngày 01/10/2002 thì bà H3, ông D và chị K có chuyển nhượng thêm cho Cánh phần đất là 1 công 2 (tức 1.200m²). Ông C đã trả vàng đủ cho bà H3, ông D, chị K và đã nhận đất sử dụng nên không đồng ý theo yêu cầu của chị K, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận của chị K để tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất. Ông C thuê người lên líp và trồng xoài, nếu Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu của chị K và xác định phần đất này của chị K thì ông C yêu cầu chị K trả lại tiền công lên líp và trồng cây cho ông C với số tiền là 2.025.000 đồng và yêu cầu chị K trả lại giá trị cây xoài mà ông C đã trồng theo kết quả định giá của Hội đồng định giá.
Ông Lê Minh Đ và bà Lê Thị H trình bày: Anh Đ và chị H là thành viên trong hộ ông C, đối với diện tích đất tranh chấp, chị H và anh Đ không có tranh chấp phần diện tích đất trên vì đất tranh chấp với chị K là của cá nhân ông C mua nên ông C toàn quyền quyết định.
Ông Lê Văn L và bà Dương Thị Mỹ C3 trình bày: Ngày 25/4/2003 ông Hồ Văn D có bán cho ông L, bà Mỹ C1 diện tích đất liếp giá 2.000.000 đồng. Ông L yêu cầu huỷ một phần diện tích đất mà Ủy ban nhân dân thành phố C đã cấp cho chị K và yêu cầu chị K là người thừa kế của ông D có trách nhiệm tiếp tục thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thực tế 276,6m². Đối với số tiền chuyển nhượng 2.000.000 đồng của ông L và bà Mỹ C1 không yêu cầu trả lại, nếu như Tòa án không chấp nhận diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của ông L và bà Mỹ C1. Đối với các loại cây trên diện tích đất tranh chấp ông L và bà Mỹ C1 thống nhất các loại cây trên đất tranh chấp nếu Tòa án giải quyết phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ai thì người đó được quyền sử dụng.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L3 trình bày:
Bà Lê Thị L3 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Phan Thị T1, bà L3 đã ủy quyền cho ông Dương Hoàng V thống nhất theo yêu cầu của ông C. Không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp trình bày:
Việc chị K đăng ký quyền sử dụng đất tại thời điểm chị K làm văn bản phân chia thừa kế đã được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận về trình tự thủ tục đầy đủ đúng quy định, chữ ký hộ giáp ranh do trong hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất thể hiện đầy đủ Ủy ban tiến hành cấp giấy, việc xác định chữ ký hộ giáp ranh không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã T. Nay có phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất thì tùy theo chứng cứ trong hồ sơ vụ án mà Tòa án xem xét quyết định.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh T3 trình bày:
Ngày 12/12/2017, ông T3 có lập tờ thỏa thuận cố đất và xoài lá với ông L và bà Mỹ C1, phần diện tích đất thửa 605, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc tại xã T. Thời hạn cố đất là 05 năm từ tháng 04/2018 âm lịch đến tháng 04/2023 âm lịch, số tiền cố đất là 100.000.000 đồng. Tại thời điểm cố đất tuy ông C (cha của ông L) không ký tên vào tờ cố đất nhưng ông C đồng ý giao cho vợ chồng ông L cố đất cho ông T3 và thỏa thuận giá đất, cũng như thời gian cố đất. Ông T3 giao tiền cố đất cho vợ chồng ông L và bà Mỹ C1 cùng nhận. Ông C cho ông T3 biết tuy giấy đất do ông C đứng tên nhưng đã giao cho vợ chồng ông L canh tác đã gần 10 năm. Đến tháng 04/2023, thời hạn cố đất đã hết nhưng phía ông C, ông L, bà Mỹ C1 chưa chuộc lại đất nên ông T3 vẫn tiếp tục quản lý khai thác xoài cho đến nay. Theo cam kết trong tờ thỏa thuận cố đất nếu trong thời hạn bên nhận cố đất còn khai thác có ai tranh chấp và cản trở thì bên cố đất hoàn lại gấp 02 lần tiền cố đất. Nay xảy ra tranh chấp giữa chị K với ông C, ông L đối với diện tích đất đã cố cho ông T3, thời hạn cố đất đã quá hạn nên ông T3 yêu cầu ông L, bà Mỹ C1 cùng có trách nhiệm trả lại số tiền 100.000.000 đồng để thanh lý hợp đồng cố đất. Ông T3 không yêu cầu bồi thường gấp 02 lần tiền cố đất. Sau khi ông L, bà Mỹ C1 trả đủ số tiền 100.000.000 đồng cho ông T3 thì ông T3 sẽ giao đất cố lại cho ông L, bà Mỹ C1. Tại phiên tòa ông T3 xác định không có yêu cầu gì đối với ông C, mà chỉ yêu cầu ông L và bà Mỹ C1 trả lại tiền cố đất.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác bà Trần Thị K1, chị Hồ Thị Ngọc H1, ông Hồ Quang V1, ông Thái Văn C2, bà Thái Thị Thúy H2, ông Thái Toàn T2, bà Nguyễn Thị S1, ông Hồ Quang L2, chị Hồ Thị Kiều N, anh Hồ Hoàng G, chị Hồ Thị Cẩm N1, anh Hồ Quang S, chị Hồ Thị Cẩm L1, anh Lê Minh N2:
Sau khi Tòa án thụ lý lại vụ án không có văn bản ghi ý kiến gửi đến Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm có mặt ông Ngọc T, ông V, ông Đ, ông Minh T3, người làm chứng ông N3, ông M1. Ngoài ra các đương sự đều khẳng định không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm; không yêu cầu Hội đồng xét xử thu thập thêm chứng cứ gì khác. Phần tranh luận:
- Ông Ngọc T trình bày:
- + Năm 2000, chị K được bà Hồ Thị H3 cho phần diện tích đất ruộng, đến năm 2001 tạm giao cho ông Hồ Văn D quản lý. Năm 2004 thì ông D chết, năm 2005 thì chị K đi đăng ký quyền sử dụng đất, khi đăng ký quyền sử dụng đất thì hộ ông C không phát sinh tranh chấp. Ngày 24/02/2009, chị K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2008 thì ông C nói đất của chị K cho ông D thì ông D đã cố đất cho ông C nên chị K có làm đơn khởi kiện ông C, bà T1. Bà T1 chỉ thừa nhận có cố đất từ ông D với diện tích 705m², còn lại diện tích tranh chấp thì bà T1, ông C không thừa nhận. Sau đó Tòa án thành phố C và Tòa án tỉnh Đồng Tháp đã giải quyết và thi hành án xong. Còn diện tích 2.127m² thì ông C cho rằng đã mua từ ông D, bà H3 nên không đồng ý trả lại nên chị K khởi kiện yêu cầu hộ ông Cánh t lại diện tích đo đạc thực tế 1.851,3m² và ông L, bà C1 phải trả lại diện tích đo đạc thực tế 276,6m².
- + Bà H3 có bán phần đất 560m² cho ông L nhưng ở vị trí khác đất tranh chấp, năm 2000 ông L đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành C4 (có bản tường trình ông C4).
- + Đối với đất là phần đất ruộng do chị K lên líp trồng xoài, có lời khai của ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn H5 là người làm chứng, lên líp thủ công đào từng ngày, mướn ông M, ông H5 và vợ của ông H5, tiền công là 3.500 đồng/m³ vào năm 2001 và thuê sửa mặt bằng và trồng 01 cây xoài là 2.500 đồng. Đối với kết quả định giá tài sản thì chị K thống nhất. Những loại cây trồng trên phần đất tranh chấp hiện nay do chị K trồng xoài, tre, cây bồ đề, ráo, những cây có tuổi thọ lớn là đều do gia đình chị K trồng, đối với những cây trồng sau năm 2011 thì không có ý kiến. Chị K không yêu cầu ông Cánh t lại các chi phí trồng cây, lên líp. Hợp đồng cố đất với ông T thì chị K không có ý kiến, nếu chấp nhận yêu cầu của chị K thì buộc ông T cùng ông C, ông L, bà C4 giao đất cho chị K.
Trong trường hợp xác định có 03 hợp đồng chuyển nhượng nhưng hủy hợp đồng này thì chị K không đồng ý trả lại số vàng, tiền như đại diện ông C đã trình bày. Vì chị K cho rằng không có hợp đồng chuyển nhượng như bên bị đơn đã trình bày.
- Ông V trình bày và yêu cầu:
- + Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào Tờ sang nhượng đất ngày 04/10/1997, Tờ sang nhượng đất ngày 01/10/2002 và Giấy bán đất ngày 24/4/2003; đối với hợp đồng cố đất giữa ông L, bà C4 và ông T thì ông L, bà C4 đồng ý trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho ông T.
- + Về đất trước năm 1997 thì đất này là đất ruộng. Năm 2000, ông C là người thuê nhân công là ông M1, ông H6 lên liếp, trả bằng 3.000 đồng/m³, lên líp toàn bộ diện tích đất. còn phần xoài là do ông C trồng, khi bà H3 giao đất thì đó là đất ruộng. Ông C trồng mía khoảng được mấy năm sau đó trồng xoài, do ông C và ông Đ trồng. Hiện nay phần đất trồng xoài đang cố cho ông T thì vẫn do phía ông C trồng.
- + Đối với ông L và bà Mỹ C1 là ông Vũ thống n phần đất diện tích 560m² và 276,6m² là của ông C nếu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì công nhận cho ông C vì thực tế ông C là người nhận chuyển nhượng từ cụ H3 và ông D. Những người con khác của ông C, anh N2 không có yêu cầu gì trong vụ án.
- + Ông C yêu cầu cá nhân chị K trả lại số tiền, vàng mà ông C đã dùng để mua đất nếu công nhận đất cho chị K theo giá tại thời điểm chuyển nhượng.
- + Đối với yêu cầu của ông Trương Minh T3 về số tiền cố đất là 100.000.000 đồng thì ông L, bà C1 đồng ý trả lại cho ông T3.
Bị đơn ông Đ trình bày: Không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Minh T3 trình bày: Ông yêu cầu ông L, bà C1 trả lại cho tôi phần tiền 100.000.000 đồng đối với hợp đồng cố đất; đối với vợ ông là bà Lê Thị T4 thì không có yêu cầu gì trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị: Căn cứ Điều 26, 34 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, 166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, 100, 106, 166, 203 Luật đất đai 2013; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Văn C, trả lại diện tích đất là 1.851,3m², tờ bản đồ số 05, thửa 605 và buộc hộ ông L, bà Mỹ C1 phải trả lại cho chị K diện tích đất đã chiếm là 276,6m², tại tờ bản đồ số 05, thửa 605; Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Văn C và ông Lê Văn L yêu cầu chị Hồ Thị K là người thừa kế của ông Hồ Vãn D1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 2.127,9m² giữa ông cánh với cụ H3, ông D1 và chị K, giữa Lê Văn L và ông Hồ Văn D (là cha của chị K); yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Hồ Thị K đứng tên tại thửa 605, tờ bản đồ số 05; Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị K thửa 605, tờ bản đồ số 5, diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.512m²; Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn C về việc yêu cầu chị K trả lại giá trị cây trồng trên đất theo giá của Hội đồng định giá và tiền công lên líp; Công nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh T3 yêu cầu ông Lê Văn L và bà Dương Thị Mỹ C1 trả lại tiền cố đất; Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản, giám định thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định đúng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thành phần những người tham gia tố tụng: Các đương sự thống nhất không có ai khiếu nại hay yêu cầu bổ sung vấn đề gì thêm.
- Về thủ tục tố tụng: Vụ án được thụ lý năm 2011. Ngày 04/8/2014, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giửa bà Hồ Thị K và ông Lê Văn L theo bản án số 44/2014/DS-ST. Ngày 21/9/2017, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự số 44/2014/DS-ST. Sau khi ra quyết định nhập các vụ án tranh chấp, ngày 13/8/2020, Tòa án thành phố C chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp do bị đơn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp trong đó có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tranh chấp theo đơn khởi kiện chị K yêu cầu giải quyết:
- + Buộc ông C, ông Đ, bà T1 trả lại diện tích đất là 1.851,3m², tờ bản đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T, thành phố C, trong phạm vi các mốc 1 – 2 - 3 - 4 - 10 - 11 – 12 trở về mốc 1 được thể hiện qua sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- + Buộc ông L, bà Mỹ C1 phải trả lại cho chị K diện tích đất đã chiếm là 276,6m², tại tờ bán đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T, thành phố C, trong phạm vi các mốc 4 – 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10 trở về mốc 4 được thể hiện qua sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn ông C, ông L, bà C1 kiện yêu cầu tuyên hợp đồng hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Yêu cầu chị K tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông C.
Tại phiên tòa sơ thẩm có mặt do ông Ngọc T, ông V, anh Đ, ông Minh T3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì các đương sự trình bày không có ý kiến yêu cầu tranh chấp, nên không tham gia tố tụng trong giải quyết vụ án. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/02/2009, chị K cấp từ thủ tục thừa kế từ bà H3, gồm có bà Hồ Thị K2, chị Hồ Thị K, bà Hồ Thị Ngọc T5 (con bà H3), bà Hồ Thị N4, ông Hồ Văn V2, chị Hồ Thị Ngọc H1, chị Nguyễn Thị Hồng N5, ông Thái Toàn T2. Do đó các đương sự không có ý kiến, vắng mặt và không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
- Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Hồ Thị H3 đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01064 ngày 20/01/1994 có diện tích 8.805m². Bà H3 là mẹ ông D; bà nội của chị K.
Ngày 06/9/2002, bà H3 chết (theo giấy chứng tử ngày 18/8/2006) và để lại diện tích cho chị K quản lý, được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02880 thửa 605, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.512m² vào ngày 24/02/2009.
Chị K khởi kiện vụ án cho rằng diện tích nêu trên được bà H3 cho từ năm 2000 và chị K cho cha là ông D mượn để sử dụng; không có việc chuyển nhượng đất. Nay yêu cầu ông C, ông L, bà C1 trả đất.
[3.2] Ông C, ông L, bà Mỹ C1 không đồng ý lý do:
Theo tờ sang nhượng đất Ngày 04/10/1997 bà H3, ông D (người đồng ý) chuyển nhượng đất cho ông L đất chiều ngang 10m, chiều dài 56m (diện tích 560m²) cộng với cây trên đất là 16 chỉ vàng 24k do bà H3, ông L, ông D ký tên, có những người làm chứng lân cận ông Huỳnh Văn T6, ông Trần Văn N6 (tổ an ninh số 11) là người viết giấy chuyển nhượng và ký xác nhận; ông Huỳnh Hùng M2 – Trưởng ban N7 ký xác nhận ngày 07/10/19997. Theo giấy chuyển nhượng ngày 04/10/1997, ông L đưa 11 chỉ vàng 24k. Đến ngày 23/3/1998, có chữ viết ông N6 ghi, ký xác nhận ông C có đưa cho bà H3 04 chỉ vàng 24k. Như vậy tổng cộng là 15 chỉ vàng 24k; còn 01 chỉ vàng 24k đã đưa thì không có chứng cứ gì chứng minh.
Ngày 01/10/2002 bà H3, ông D (người đồng ý), có chị K cùng ký tên chuyển nhượng đất cho ông C diện tích đất 1 công mười hai (là 1.200m² ) với giá là 3 cây (30 chỉ) vàng 24k đã đưa đủ.
Ông Lê Văn L và bà Dương Thị Mỹ C1 cho rằng ngày 25/4/2003 ông Hồ Văn D1 có bán cho ông L, bà Mỹ C1 một cái líp diện tích 219m² với giá 2.000.000 đồng, trên liếp đã có cây tre, và trải, hai bên có làm giấy mua bán, từ khi mua đất cho đến nay ông L, bà Mỹ C1 sử dụng phần diện tích đất trên.
Hội đồng xét xử xét:
- + Về nguồn gốc đất của bà H3, đất ông C thuê sử dụng từ trước năm 1997-1998 đến khi tranh chấp năm 2011. Bà H3 chết ngày 06/9/ 2002; năm 2009 chị K là cháu bà H3 đăng ký quyền sử dụng đất. Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất các đồng thừa kế và bà K2 đã có ký từ chối nhận thừa kế và giao chị K đăng ký quyền sử dụng đất. Do đó những người có liên quan này không có yêu cầu và không đến tham dự phiên tòa giải quyết của Tòa án. Chị K, ông C, ông L, bà C1, ông Đ đồng ý đất cấp cá nhân chị K, nếu giải quyết tranh chấp thì do cá nhân bà K giải quyết tất cả.
- + Do đó xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn :
Qua các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, năm 2002 bà H3 chết; năm 2003 ông D1 bán đất cho ông L; năm 2004 ông D1 chết; năm 2006 họ tộc có văn bản giao thừa kế cho chị K; năm 2007 chị K đăng ký; năm 2009 chị K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo Công văn số 786/UBND-TN ngày 19/7/2012 của UBD thành phố C cung cấp thông tin: Bà Hồ Thị H3 được UBND thị xã C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/01/1994, số vào sổ 01064QSDĐ/T1, tổng diện tích là 8.805m², tờ bản đồ số 3, xã T, gồm 04 thửa, trong đó có 450m² đất T, 2.760m² đất LNK, 5.595m² đất ĐM. Năm 2002, bà Hồ Thị H3 chết, chị Hồ Thị K làm văn bản phân chia di sản của bà nội là bà Hồ Thị H3 để lại và được UBND xã T chứng thực ngày 09/11/2006. Văn bản phân chia di sản thừa kế được thiết lập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đất đai. Ngày 12/01/2007, chị Hồ Thị K làm đơn xin đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất và được UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/02/2009, tờ bản đồ số 5 tại xã T, gồm các thửa sau: Thửa số 01, diện tích 400m², mục đích sử dụng là đất ở nông thôn. Thửa số 617, diện tích 711,1m², mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm. Thửa 605, diện tích 3.512,3m², mục đích sử dụng là đất trồng lúa. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Hồ Thị K đúng trình tự thủ tục, tại thời điểm cấp giấy không phát sinh tranh chấp. Căn cứ vào việc được tặng cho, cấp quyền sử dụng đất cá nhân chị K nên chị K khởi kiện yêu cầu trả đất là có căn cứ theo quy định pháp luật.
- + Xét yêu cầu phản tố ông C, ông L, bà C1 trình bày:
- Theo tờ sang nhượng đất ngày 04/10/1997, bà H3, ông D1 (người đồng ý) chuyển nhượng đất cho ông L đất chiều ngang 10m, chiều dài 56m (diện tích 560m²) cộng với cây trên đất là 16 chỉ vàng 24k do bà H3, ông L, ông D1 ký tên, có những người làm chứng lân cận ông Huỳnh Văn T6, ông Trần Văn N6 (tổ an ninh số 11) là người viết giấy chuyển nhượng và ký xác nhận; ông Huỳnh Hùng M2 – Trưởng ban N7 ký xác nhận ngày 07/10/19997. Theo giấy chuyển nhượng ngày 04/10/1997, ông L đưa 11 chỉ vàng 24k. Đến ngày 23/3/1998 ông N6 ghi, ký xác nhận ông C có đưa cho bà H3 04 chỉ vàng 24k. Như vậy tổng cộng là 15 chỉ vàng 24k; còn 01 chỉ vàng 24k đã đưa thì không có chứng cứ chứng minh giao nhận cho bà H3.
Xét vị trí đất được xác định theo tờ hợp đồng chuyển nhượng năm 1997 khác với vị trí đương sự xác định theo đo đạc thẩm định thực tế đất tranh chấp. Các đương sự thống nhất trước đây bà H3 có bán cho ông L diện tích đất mà sau này ông L đã bán lại cho ông Nguyễn Thành C4. Theo ông C4 xác nhận có nhận chuyển nhượng diện tích đất của ông L phù hợp với diện tích 560m² có vị trí như tờ tường trình xác nhận.
Đồng thời việc hợp đồng chuyển nhượng và giao nhận vàng của ông C thì theo lời khai của ông C, ông Đ với lời khai của ông Nó có nhiều thay đổi, không thống nhất, không có đủ chứng cứ giao vàng cho bà H3 nhận do đó không chấp nhận thực tế có hợp đồng này.
- Theo tờ sang nhượng đất ngày 01/10/2002 bà H3, ông D1 (người đồng ý), có chị K cùng ký tên chuyển nhượng đất cho ông C diện tích đất 1 công mười hai (là 1.200m²) với giá là 3 cây vàng 24k đã đưa đủ. Lúc này bà H3 đã chết ngày 06/9/2002; Ngày 04/02/2020 Phòng K3 Công an tỉnh Đ có Công văn số 215/KTHS từ chối giám định chữ ký của ông Hồ Văn D; Chữ ký tên chị K nhiều lần đã được giám định không đúng do chị K ký viết. Lần cuối cùng vào ngày 04/8/2017, Trung tâm tư vấn, giám định dân sự của Hà Nội có bản giám định số 27/2017/TTTVGĐDS kết luận giám định: Chữ ký, chử viết ghi tên K trên tờ sang nhượng đất ngày 01/10/2002 với chữ ký của Hồ Thị K trong các mẫu so sánh không phải do một người ký ra nên do đó không chấp nhận thực tế có hợp đồng này.
- Đối với sang nhượng đất ngày 25/4/2003 theo lời trình bày ông L, bà C4: Là giấy tay mua bán đất năm 2003 và đã sử dụng đến nay, yêu cầu người thừa kế của ông D là chị K tiếp tục thực hiện hợp đồng và đồng thời hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chị K. Xét giấy tay ngày 25/4/2003 là ông L mua bán đất với ông D, trong khi đó bà H3 còn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc mua bán này không được chị K thừa nhận. Về nội dung giất tay này chỉ ghi là mua một lớp đất, toàn bộ tre trên mặt đất. Giấy tay này không có ghi diện tích, vị trí đất chuyển nhượng. Số tiền chuyển nhượng đất theo thực tế 276,6m² và cây giá 2.000.000 đồng cũng không phù hợp nên do đó không chấp nhận thực tế có hợp đồng này.
Đất chị K đứng tên quyền sử dụng đất, chị K đã có tranh chấp yêu cầu ông C, bà T1 trả lại một phần cho chị K mà theo ông C, bà T1 cho là hợp đồng cầm cố đất. Đồng thời theo bản án phúc thẩm 414/2010/DS-PT ngày 21 tháng 12 năm 2010 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” giữa chị K và ông C cũng đã nhận định: Buộc ông C phải trả lại đất cho chị K, là người đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần đất mà chị K được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc là của bà H3 thực tể đã cho chị K từ năm 2000 mặc dù trong thủ tục chuyển quyền sử dụng đất ghi nguồn gốc là thừa kế, nên trong thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị K, tất cả những người con của bà H3 đều thống nhất tiếp tục thực hiện ý chí cho đất của bà H3 nên đều có ký tên thống nhất cho chị K được đứng tên quyền sử dụng đất vì chị K không thuộc hàng thừa kề thứ nhất của bà H3; tại thời điểm trước khi bà H3 chết thì giữa bà H3 với ông C cũng không có một giao dịch dân sự nào làm phát sinh nghĩa vụ về tài sản của bà H3 đối với ông C; thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị K đúng theo trình tự, thủ tục luật định và tại thời điểm cấp đất không có tranh chấp; diện tích đất này bà H3 đã cho chị K từ năm 2000, nên khi bà H3 chết, phần đất này cũng không phải là di sản thừa kế của bà H3, nên không làm phát sinh quyền về tài sản của ông D - ông D chết cũng không có để lại tài sản gì nên nay chị K cũng không có nghĩa vụ gì về tài sản từ ông D theo quy định tại Điều 637 Bộ luật Dân sự năm 2005; Vì vậy chị K không có nghĩa vụ gì về tài sản đối với ông C nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông C đòi chị K phải hoàn trả cho ông C 30 chỉ vàng 24K là có căn cứ. Buộc ông C phải trả một phần đất của thửa đất 665. Bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự cũng đã thi hành xong, không còn tranh chấp và đất này chị K đang quản lý canh tác.
Phần đất còn lại thuộc thửa 665 chị K tranh chấp được tiếp tục giải quyết cho đến nay. Qua các chứng cứ nhận định nêu trên xác định do không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên việc ông C, ông L yêu cầu trong trường hợp trả đất lại cho chị K thì chị K phải trả lại cho ông C 46 chỉ vàng 24k và 2.000.000 đồng số tiền mà bà H3, ông D và chị K đã nhận theo các tờ sang nhượng đất là không có căn cứ để chấp nhận
[3.3] Đối với cây trồng trên phần đất được xác định của đất do bị đơn ông C thuê canh tác từ trước năm 1997 đến nay nên lên líp, trồng cây trên đất. Chị K trình bày do chị thuê người lên líp trồng cây năm 2010 trên đất nhưng không có đủ chứng cứ chứng minh do đất từ trước đến nay ông C sử dụng; chị K cũng trình bày do chị đi làm xa nên năm 2010 chị gửi tiền về cho ông D để thuê người làm.
Do đó xác định chi phí lên líp trồng cây là do ông C thực hiện; do chấp nhận yêu cầu về đất của chị K nên buộc chị K trả cho ông C tiền chi phí lên líp trồng cây là 2.050.000 đồng và giá trị cây trồng trên đất tổng cộng là 267.236.000 đồng.
- Đối với xét yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh T3 yêu cầu ông L và bà C4 trả lại số tiền cố đất 100.000.000 đồng thì ông L và bà C4 đồng ý nên công nhận sự tự nguyện này của ông T3 với ông L và bà C4. Ông Minh T3 đang canh tác đất tranh chấp nên buộc ông Minh T3 có trách nhiệm cùng ông C, ông L, bà Mỹ C1 giao đất cho chị K.
[3.4] Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Trần Thị K1, chị Hồ Thị Ngọc H1, ông Hồ Quang V1, ông Thái Văn C2, bà Thái Thị Thúy H2, ông Thái Toàn T2, bà Nguyễn Thị S1, ông Hồ Quang L2, chị Hồ Thị Kiều N, anh Hồ Hoàng G, chị Hồ Thị Cẩm N1, anh Hồ Quang S, chị Hồ Thị Cẩm L1; nếu các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết vụ án khác theo trình tự, thủ tục của pháp luật quy định.
[3.5] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh N2, những người con của ông C là ông Lê Minh Đ, bà Lê Thị H, bà Lê Thị L3 không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[3.6] Từ những phân tích nêu trên, xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Xét về chi phí thẩm định, định giá, giám định: Ông Lê Văn C, ông Lê Văn L, bà Dương Thị Mỹ C1 phải chịu tiền chi phí thẩm định, định giá, giám định theo quy định pháp luật.
[5] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông C, ông L, bà C1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nhưng do ông C là người cao tuổi và có đơn xin nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm; chị K phải chịu án phí chi phí lên líp đất, trồng cây trả cho ông C. Ông Trương Minh T3 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 37, 147, 157, 158, 161, 165, 166, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 164, 166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự 2015;
Điều 26, 100, 106, 166, 203 Luật đất đai 2013.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị K.
- + Buộc ông Lê Văn C, ông Lê Văn L, bà Dương Thị Mỹ C1, ông Trương Minh T3 phải trả lại cho chị K diện tích đất là 1.851,3m², tờ bản đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T, thành phố C, trong phạm vi các mốc 1-2-3-4-10-11-12 trở về mốc 1 được thể hiện qua biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- + Buộc ông Lê Văn L, bà Dương Thị Mỹ C1, ông Trương Minh T3 phải trả lại cho chị K diện tích đất là 276,6m², tờ bán đồ số 05, thửa 605, đất tọa lạc xã T, thành phố C, trong phạm vi các mốc 4-5-6-7-8-9-10 trở về mốc 4 được thể hiện qua biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- + Tổng cộng diện tích là 2.127.9m². Đất do chị Hồ Thị K đứng tên giấy chứng nhận do UBND thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/02/2009, tờ bản đồ số 5, đất tọa lạc xã T, thành phố C.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc ngày 22/9/2017 và ngày 05/6/2018, Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh).
- Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Văn C và ông Lê Văn L yêu cầu chị Hồ Thị K là người thừa kế của ông Hồ Văn D tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 2.127,9m² giữa ông C với cụ H3, ông D và chị K; giữa Lê Văn L và ông Hồ Văn D (là cha của chị K); yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chị Hồ Thị K đứng tên tại thửa 605, tờ bản đồ số 05, diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.512m².
- Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn C về việc yêu cầu chị K trả lại giá trị cây trồng trên đất theo giá của Hội đồng định giá và tiền công lên líp với số tiền là 267.236.000 đồng.
- Công nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trương Minh T3 yêu cầu ông Lê Văn L và bà Dương Thị Mỹ C1 chấm dứt hợp đồng cố đất và trả lại tiền cố đất cho ông T3 là 100.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
- Về chi phí, án phí tố tụng dân sự sơ thẩm:
- - Chi phí đo đạc và định giá: Chị K đã nộp và chi xong tổng cộng số tiền là 6.149.000 đồng. Ông C, ông L và bà C1 đã nộp và chi xong số tiền là 200.000 đồng. Buộc ông C, ông L và bà C1 phải chịu số tiền là 6.149.000 đồng và có trách nhiệm liên đới trả cho chị K số tiền này.
- - Chi phí giám định: Ông C, ông L và bà C1 phải chịu tổng cộng số tiền là 17.508.000 đồng.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Chị Hồ Thị K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 13.362.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tổng số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.681.000 đồng theo các biên lai tạm ứng án phí số 000628 ngày 10/11/2011 với số tiền 246.000 đồng; biên lai tạm ứng án phí số 000629 ngày 10/11/2011 với số tiền 1.012.500 đồng; biên lai tạm ứng án phí số 000976 ngày 21/3/2012 với số tiền 220.500 đồng; biên lai tạm ứng án phí số 11186 ngày 12/3/2013 với số tiền 200.000 đồng; biên lai tạm ứng án phí số 11187 ngày 12/3/2013 với số tiền 1002.000 đồng của cùng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Chị K phải nộp thêm 10.681.000 đồng.
- + Ông Lê Văn C được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi. Ông C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 11161 ngày 04/3/2013 và 293.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 14350 ngày 07/6/2013 của cùng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.
- + Ông Lê Văn L, bà Dương Thị Mỹ C1 phải chịu tổng số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai tạm ứng án phí số 006385 ngày 16/7/2012 với số tiền 200.000 đồng và biên lai tạm ứng án phí số 14404 ngày 19/6/2013 với số tiền 200.000 đồng của cùng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Ông L, bà C1 phải nộp thêm 4.900.000 đồng.
- + Ông Trương Minh T3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông T3 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0003326 ngày 18/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên phiên tòa khi tuyên án có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 15/2024/DS-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Hồ Thị Kiều BĐ: Lê Văn Cánh
