|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 15/2026/DS-PT Ngày 09 - 01 - 2026 V/v tranh chấp kiện đòi tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tiến Hiệp; Bà Nguyễn Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Lê Huyền Kim - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 07 và 09 tháng 01 năm 2026, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 737/2025/TLPT-DS ngày 16/12/2025 về "Tranh chấp kiện đòi tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 744/2025/QĐPT-DS ngày 30/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1960; địa chỉ: số F, thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của anh C: Chị Trần Thị Tú P1, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt) - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Thị Tú P1, sinh năm 1981; địa chỉ: số A, thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: số F, thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P trình bày:
Năm 2017, ông P có nộp đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Đức P2 lấn chiếm đất của ông P phần diện tích đất ông P mua của bà Nguyễn Thị Ngọc H1, diện tích 1397m2, đất tọa lạc tại tổ H, khu phố N, thị trấn L, huyện L. Ông P được biết anh C cũng đang kiện bà H, ông P2 lấn chiếm phần diện tích đất trên. Trong diện tích đất tranh chấp giữa bà H, ông P2 và anh C thì có 01 phần diện tích đất tranh chấp giữa ông P và bà H, ông P2 nên anh C và ông P đã lập giấy thỏa thuận ngày 16/4/2017 với nội dung nếu anh C thắng kiện đối với phần tranh chấp đất giữa anh C với bà H, ông P2 thì anh C sẽ trả lại cho ông P diện tích đất như ông P rút đơn khởi kiện trong năm 2017. Tuy nhiên anh C không thực hiện theo giấy thỏa thuận đã lập.
Nay, ông P yêu cầu anh C trả lại phần diện tích đất con đường đi diện tích chiều ngang mặt đường nhựa là 0,9m, chiều ngang đuôi đất là 2 mét, chiều dài đất khoảng 80 mét và phần diện tích 492,6m2 thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 29 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH03220 do UBND huyện L cấp ngày 26/5/2023 đứng tên Nguyễn Chí C. Đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Nay là thôn N, xã L, tỉnh Đồng Nai. Phần diện tích 492,6m2 trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án số 05/2018 ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Phần đất tranh chấp này ông P và anh C đã thỏa thuận theo văn bản thỏa thuận ngày 16/4/2017. Phần diện tích đất tranh chấp được trên ông P quản lý sử dụng từ trước đến nay. Khoảng tháng 3/2023, thì chị P1 xây hàng rào ngăn lại không cho ông sử dụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc anh C trả lại phần diện tích đã lấn chiếm và theo văn bản thỏa thuận ngày 16/4/2017 giữa ông P và anh C. Đối với việc anh C chuyển nhượng đất cho chị P1 thì ông P không có yêu cầu gì đối với chị P1, không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị P1.
* Bị đơn anh Nguyễn Chí C và đại diện theo ủy quyền của bị đơn là chị Trần Thị Tú P1 thống nhất trình bày:
Anh C là cháu ruột ông P, từ khi cha ruột anh C chết thì anh C sống cùng với ông P từ khoảng 8-9 tuổi đến năm 2017 thì anh C đi làm tại Đ (phụ bán quán cho con gái ông P), tuy nhiên thỉnh thoảng anh C vẫn về nhà ông P. Năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử giải quyết đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn anh C và bị đơn bà H, ông P2 theo bản án 05/2018/DS-ST ngày 23/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh C được Tòa án giao phần diện tích đất đã được tuyên trong bản án. Trong vụ án, trên ông P tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, còn bà Nguyễn Thị D tham gia với tư cách là đại diện theo ủy quyền của anh C. Trong năm 2017, tại thời điểm anh C khởi kiện bà H ông P2 thì anh C được biết ông P không khởi kiện bà H và ông P2 như ông P trình bày. Ngoài ra, anh C cũng không lập giấy thỏa thuận nào với ông P vì anh C không biết chữ, anh C chỉ biết viết họ và tên của mình. Đồng thời nếu có sự thỏa thuận giữa ông P và anh C thì phải có mặt bà D tham gia vì bà D nhận ủy quyền của anh C. Tất cả mọi việc liên quan tới vụ án, bà D là người quyết định.
Nay, anh C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông P vì giữa ông P và anh C không lập văn bản thỏa thuận như ông P trình bày. Chị P1, anh C không có ý gì kiến gì đối với sơ đồ trích đo địa chính số 199-2024 ngày 27/9/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B và công văn số 37/2025 ngày 14/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, công văn số 46/2025 ngày 26/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P được nộp trong hạn luật định, có nội dung, hình thức và phạm vi kháng cáo phù hợp với quy định tại các điều 271, 272 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P về yêu cầu Tòa án buộc bị đơn anh Nguyễn Chí C phải trả lại cho nguyên đơn phần diện tích đất mà nguyên đơn cho rằng bị lấn chiếm, gồm: phần đất có diện tích 127,3m2 và phần đất có diện tích 492,6m² thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước...
[6] Từ những phân tích trên, thấy rằng kháng cáo của ông P không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Đồng Nai.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 (kèm theo Quyết định sửa đổi, bổ sung Bản án số 07/2025/QĐSĐBSBA ngày 08/12/2025) của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai;
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu P đối với yêu cầu Tòa án buộc bị đơn anh Nguyễn Chí C phải trả phần diện tích đất 127,3m2 (chiều ngang mặt đường nhựa là 0,9m, chiều ngang đuôi đất là 2 mét, chiều dài 88,40m, trong đó có 4,0m2 thuộc HLBVĐB) là một phần thuộc thửa 112 tờ bản đồ số 29... và diện tích đất 492,6m2 thuộc thửa số 114 tờ bản đồ số 29...
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND khu vực 14 – Đồng Nai; - VKSND khu vực 14 – Đồng Nai; - Phòng THADS khu vực 14 -Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án, Tổ HCTP, Tòa DS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Quý Chi |
Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 15/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phúc kiện đòi ông Công phần đất giáp ranh
