|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày: 19 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lợi
Ông Hà Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 18/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 04/3/2025 đối với bị cáo:
Trần Tuấn N, sinh ngày 13/8/2001; tại: xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...], cấp ngày 14/12/2021, noi cấp: Cục cảnh sát về QLHC và TTXH; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T; con bà: Lê Thị H; vợ: Nguyễn Thị T1; Con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2024, đến ngày 06/11/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn thu lời bất chính nên từ 30/6/2024 đến ngày 30/10/2024 (thời điểm phát hiện tội phạm), Trần Tuấn N đã sử dụng tiền cá nhân để cho chị Lê Thị H1 (SN 1982, ở thôn H, xã Q, huyện Q) 04 lần vay tiền với lãi 10.000đ/1triệu/1ngày; tương đương 365%/năm; vượt quá 18,25 lần lãi suất tối đa quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nhằm thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Ngày 30/06/2024, Trần Tuấn N cho chị H1 vay 40.000.000₫, hình thức trả góp cả gốc và lãi mỗi ngày là 2.000.000đ, thời hạn trả trong 25 ngày. Tổng tiền lãi chị H1 phải trả cho 25 ngày vay là 10.000.000₫ (10.000đ/1triệu/1ngày), tương với mức lãi suất 365%/năm. Khi cho vay, N cắt 2.000.000đ phí hồ sơ và 2.000.000đ tiền trả góp ngày đầu tiên, số tiền còn lại N đã đưa đủ cho chị H1.
Đến ngày 05/7/2024, chị H1 đảo và vay khoản mới, đã trả đủ số tiền gốc 40.000.000đ và 10.000.000đ tiền lãi của khoản vay này. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 BLDS của khoản vay này là 547.945đ, số tiền thu lời bất chính đã thu là 9.452.055đ. Số tiền N nhằm thu lời bất chính của lần vay này là 11.452.055₫.
- Lần thứ hai: Ngày 05/7/2024, Trần Tuấn N cho chị H1 vay 60.000.000₫, hình thức trả góp cả gốc và lãi mỗi ngày là 3.000.000đ, thời hạn trả trong 25 ngày. Tổng tiền lãi chị H1 phải trả cho 25 ngày vay là 15.000.000₫ (10.000đ/1triệu/1ngày), tương với mức lãi suất 365%/năm. Khi cho vay, N cắt 2.000.000đ phí hồ sơ và 3.000.000đ tiền trả góp ngày đầu tiên, số tiền còn lại N đã đưa đủ cho chị H1.
Đến ngày 15/7/2024, chị H1 đảo và vay khoản mới, đã trả hết đủ số tiền gốc 60.000.000đ và 15.000.000đ tiền lãi của khoản vay này. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 BLDS của khoản vay này là 821.918đ, số tiền thu lời bất chính đã thu là 14.178.082đ. Số tiền N nhằm thu lời bất chính của lần vay này là 16.178.082₫.
- Lần thứ ba: Ngày 15/7/2024, Trần Tuấn N cho chị H1 vay 70.000.000₫, hình thức trả góp cả gốc và lãi mỗi ngày là 3.500.000đ, thời hạn trả trong 25 ngày. Tổng tiền lãi chị H1 phải trả cho 25 ngày vay là 17.500.000₫ (10.000đ/1 triệu/1 ngày), tương với mức lãi suất 365%/năm. Khi cho vay, N cắt 2.000.000₫ phí hồ sơ và 3.500.000đ tiền trả góp ngày đầu tiên, số tiền còn lại N đã đưa đủ cho chị H1.
Đến ngày 24/7/2024, chị H1 đảo và vay khoản mới, đã trả hết đủ số tiền gốc 70.000.000đ và 17.500.000đ tiền lãi của khoản vay này. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 BLDS của khoản vay này là 958.904đ, số tiền thu lời bất chính đã thu là 16.541.096đ. Số tiền N nhằm thu lời bất chính của lần vay này là 18.541.096₫.
- Lần thứ tư: ngày 24/7/2024, Trần Tuấn N cho chị H1 vay 70.000.000₫, hình thức trả góp cả gốc và lãi mỗi ngày là 3.500.000đ, thời hạn trả trong 25 ngày. Tổng tiền lãi chị H1 phải trả cho 25 ngày vay là 17.500.000₫ (10.000đ/1triệu/1ngày), tương với mức lãi suất 365%/năm. Khi cho vay, N cắt 2.000.000đ phí hồ sơ và 3.500.000đ tiền trả góp ngày đầu tiên, số tiền còn lại N đã đưa đủ cho chị H1.
Đến ngày phát hiện tội phạm 30/10/2024, chị H1 đã đóng được 16.000.000₫ (gốc 13.200.000₫, lãi 2.800.000₫), còn nợ 21 ngày là 71.500.000đ (gốc 56.800.000đ, lãi 14.700.000₫).
Đối với khoản vay này, tổng số tiền lãi N nhằm thu là 17.500.000₫, 2.000.000đ tiền phí. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468 BLDS của khoản vay này là 958.904đ (thực tế đã thu 153.425đ). Số tiền N nhằm thu lời bất chính của lần vay này là 18.541.096đ (thực tế đã thu 3.346.575đ).
Như vậy: Từ ngày 30/6/2024 đến ngày 30/10/2024 (thời điểm phát hiện tội phạm), Trần Tuấn N đã cho chị Lê Thị H1 vay tiền 04 lần, với số tiền gốc được sử dụng quay vòng là 70.000.000đ, lãi suất cho vay 365%/1năm, vượt quá 18,25 lần so với mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Tổng số tiền lãi mà N nhằm thu tính đến thời điểm phát hiện tội phạm (ngày 30/10/2024) là 60.000.000đ; số tiền phí hồ sơ trái quy định là 8.000.000đ. Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự của các khoản vay là 3.287.671đ; Tổng số tiền thu lời bất chính N phải chịu TNHS là 64.712.329đ. Trong đó, số tiền lãi thực tế Trần Tuấn N đã thu được tính đến ngày 30/10/2024 là 45.300.000đ (số tiền lãi theo mức tối đã của BLDS đã thu là 2.482.192đ, số tiền thu lời bất chính đã thu là 42.817.808đ).
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác của vụ án.
Tại cáo trạng số 06/CT-VKSQX ngày 04/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Trần Tuấn N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 BLHS. Xử phạt Trần Tuấn N từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Về các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền gốc 70.000.000 đồng của N cho vay là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Trong đó tịch thu 56.800.000 đồng của chị Lê Thị H1 vay chưa trả cho N, tịch thu 13.200.000đ tiền của N để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 2.482.192 đồng tiền lãi theo mức tối đa 20% theo quy định của BLDS mà N đã thu.
Đối với số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật mà N đã thu của chị H1 là 42.817.808 đồng, buộc N phải trả lại cho chị H1 theo quy định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, Hội đồng xét xử có thể công bố lời khai của họ tại phiên tòa để tranh tụng nên không ảnh hưởng đến hoạt động xét xử vụ án. Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Bị cáo khai nhận: Từ ngày 30/6/2024 đến ngày 30/10/2024 (thời điểm phát hiện tội phạm), bị cáo sử dụng số tiền gốc 70.000.000 đồng cho chị Lê Thị H1 vay với lãi suất cho vay 365%/1 năm, vượt quá 18,25 lần so với mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nhằm thu lời bất chính 64.712.329 đồng. Bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo Trần Tuấn N theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tuấn N có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS.
[3] Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do muốn thu lời bất chính từ việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, ngoài ra còn ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Hành vi đó làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xét tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ sức giáo dục và phòng ngừa chung.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 năm 2015, người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo thuộc diện lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo nhằm mục đích thu lời bất chính, căn cứ khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Trần Tuấn N 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để răn đe đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền gốc 70.000.000 đồng của Trần Tuấn N cho vay là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Trong đó: Tịch thu 56.800.000 đồng của chị Lê Thị H1 vay chưa trả cho Trần Tuấn N, tịch thu của Trần Tuấn N 13.200.000 đồng tiền gốc chị Lê Thị H1 đã trả cho Trần Tuấn N để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền lãi theo mức tối đa 20% theo quy định của BLDS mà Trần Tuấn N đã thu là 2.482.192 đồng cần truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật mà Trần Tuấn N đã thu của chị Lê Thị H1 là 42.817.808 đồng, buộc Trần Tuấn N phải trả lại cho chị Lê Thị H1 theo quy định.
[7] Các tình tiết khác liên quan đến vụ án:
Quá trình điều tra vụ án, tại nội dung bản sao kê tài khoản ngân hàng số 27222983869999 của bị can Trần Tuấn N mở tại ngân hàng M có các giao dịch nhận tiền từ tài khoản ngân hàng số 6350075625 mở tại ngân hàng B và số [...] mở tại ngân hàng A của chị Hoàng Hồ Thùy N1 (SN 1980, ở tổ dân phố A, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), nội dung của các giao dịch này thể hiện việc chị N1 trả nợ cho bị can N theo ngày. Trần Tuấn N trình bày: trong thời gian từ tháng 08/2024 đến tháng 10/2024, N thường xuyên vào TP ., tỉnh Đắk Lắk để thu mua sầu riêng của chị N1. Quá trình thu mua, N đặt cọc cho chị N1 45.000.000 đồng nhưng sau đó do sầu riêng không đạt chất lượng nên N yêu cầu chị N1 trả lại tiền cọc. Do chị N1 đã tiêu hết số tiền cọc của N nên cả hai thỏa thuận chị N1 phải trả dần số tiền nêu trên cho N theo ngày đến khi hết nợ. Căn cứ lời khai của N, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã phối hợp cùng Công an phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đến tại nhà chị N1 để xác minh ghi lời khai đối với chị N1 về nội dung trên. Tuy nhiên, chị N1 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không ai biết nên không thể làm việc được. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý Trần Tuấn N về hành vi trên là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt bị cáo Trần Tuấn N 18 tháng cải tạo không giam giữ; được trừ đi 06 ngày tạm giữ (từ ngày 31/10/2024 đến ngày 06/11/2024) bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Còn phải chấp hành 17 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ.
Thời điểm tính chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Trần Tuấn N cho Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát bị cáo; UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa là nơi bị cáo cư trú để giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Tuấn N.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 201 của Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Trần Tuấn N 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 5 Nghị quyết 01/2021 ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự.
Đối với số tiền gốc: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền gốc 70.000.000 đồng của Trần Tuấn N cho vay là phương tiện phạm tội. Trong đó tịch thu của chị Lê Thị H1 56.800.000 đồng tiền vay chưa trả cho Trần Tuấn N, tịch thu của Trần Tuấn N 13.200.000 đồng tiền gốc chị Lê Thị H1 đã trả cho Trần Tuấn N.
Đối với tiền lãi thu được tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của BLDS: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 2.482.192 đồng tiền lãi theo mức tối đa 20% theo quy định của BLDS mà Trần Tuấn N đã thu.
Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định của Nhà nước mà Trần Tuấn N đã thu của người vay: Buộc Trần Tuấn N phải trả lại cho chị Lê Thị H1 số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật mà N đã thu của chị H1 là 42.817.808 đồng.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Mục 1 phần I Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị Quyết.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá; - VKSND huyện Quảng Xương; - THADS huyện Quảng Xương; - Công an tỉnh Thanh Hoá; - UBND xã Q; - Công an xã Q; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Trần Thị Hương |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn N phạm tội Cho vay lãi nặng trong GD dân sự
