TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HSST.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Nguyễn Đình Thanh.
- Bà: Đoàn Thị Dịu.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST - HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 16/02/2025 đối với các bị cáo:
- Phạm Thị L, sinh năm 1983 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phạm Văn T (đã chết); Con bà Trần Thị L1, sinh năm 1954; Gia đình có 7 anh em, bị cáo là thứ 5; Chồng Chu Văn H, sinh năm 1981; Có 4 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
- Trần Văn G, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Trần Văn C, sinh năm 1958; Con bà Phạm Thị H1, sinh năm 1960; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là thứ 2; Vợ Chu Thị N, sinh năm 1988; Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm ổn định, để có thêm thu nhập, Phạm Thị L nảy sinh ý định bán số lô cho nhưng người chơi bằng hình thức nhận tin nhắn qua ứng dụng Zalo đến tài khoản có tên “Khong Ten” của L. Hành vi bán số lô, là hình thức đánh bạc dựa vào kết quả Xổ số miền B mở thưởng trong ngày, L và các đối tượng chơi tự quy định như sau: Người chơi chọn một số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 để đặt cược theo điểm, mỗi điểm lô L bán với giá 22.000 đồng. Khi có kết quả, người mua so sánh các số lô đã mua với hai số cuối của tất cả 27 giải kết quả xổ số ngày hôm đó. Nếu số mà người chơi mua trùng với hai số hàng chục và hàng đơn vị của bất kỳ giải nào trong 27 giải nêu trên thì được gọi là “trúng lô", khi đó L phải trả cho người chơi số tiền tương ứng 1 điểm lô là 80.000 đồng, nếu trùng bao nhiêu giải thì lại nhân tiếp số tiền với bấy nhiêu lần. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đã bỏ ra để mua các điểm lô của số lô đó.
Hồi 17 giờ 40 phút ngày 14/12/2024, Trần Văn G sử dụng tài khoản "Tran Van Giap" trên ứng dụng Zalo của G nhắn tin đến tài khoản “Khong Ten" của L với nội dung “Lô 10.26.74x70d 03.04.15.93.97x50d 28x40d". L hiểu ý Giáp muốn mua các số lô: 10, 26, 74 mỗi số 70 điểm; 03, 04, 15, 93, 97 mỗi số 50 điểm và số 28 là 40 điểm, L nhắn tin trả lời là "1" nghĩa là đồng ý và xác định giao dịch đã thành công. Tổng số điểm lô L đã bán cho G là 500 điểm tương ứng với số tiền 11.000.000 đồng, L và G thống nhất sẽ thanh toán tiền sau khi có kết quả mở thưởng sổ xố trong ngày. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 14/12/2024 thì G trúng các số lô: “26, 74, 03, 93, 28", riêng số lô “28” trúng 02 số, tổng cộng G đã trúng 320 điểm lô tương ứng với số tiền 25.600.000 đồng. Tổng số tiền L và G sử dụng để đánh bạc ngày 14/12/2024 là 36.600.000 đồng. Do trước đó G có mượn 50.000.000 đồng của L, nên L đã trừ số tiền G trúng lô vào số tiền nợ và nhắn lại: “-26914” nghĩa là số tiền mà G còn nợ L là 26.914.000 đồng.
Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra Công an huyện T, ngày 15/12/2024 Trần Văn G đã tự thú khai nhận về hành mua số lô của mình với Phạm thị L.
* Vật chứng thu giữ: Thu của Phạm Thị L 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu xanh, số IMEII: 352473674219053; Thu của Trần Văn G 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A23 màu đen, số IMEI 1: 353220824388372; Thu của chồng L là anh Chu Văn H 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, số IMEI: 357212090956798 và cây máy vi tính.
Bản Kết luận giám định số: 222/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Trích xuất, phục hồi được dữ liệu: Nội dung các tin nhắn SMS, tin nhắn trong ứng dụng mạng xã hội Zalo trong mẫu giám định điện thoại thu giữ của Trần Văn G (ký hiệu A1) và Phạm Thị L (ký hiệu A2). Dữ liệu phục hồi, trích xuất được lưu trong 01 (một) đĩa DVD có chứa 787MB dung lượng dữ liệu. Tiến hành mở kiểm tra toàn bộ dữ liệu không xác định được dữ liệu phục hồi, trích xuất có liên quan đến hành vi mua bán số lô hay không.
* Quá trình điều tra:
- Trần Văn G tự nguyện giao nộp 11.000.000 đồng là tiền G mua số lô trái phép của L vào ngày 14/12/2024.
- Phạm Thị L tự nguyện giao nộp số tiền 25.600.000 đồng là tiền G trúng thưởng lô vào ngày 14/12/2024.
- Cơ quan CSĐT xác định: Chiếc điện thoại di động Iphone màu vàng và cây máy vi tính thu của anh Chu Văn H không sử dụng vào việc mua bán số lô trái phép. Cơ quan CSĐT đã trả lại các tài sản trên cho anh H.
Tại cơ quan điều tra: Các bị cáo Phạm Thị L và Trần Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nhận xét trên.
Bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 07 tháng 02 năm 2025, VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Thị L và bị cáo Trần Văn G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.
Tại phiên toà:
- - Bị cáo L và bị cáo G đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nhận xét trên và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được áp dụng hình phạt tiền.
- - Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS: Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thị L từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng. Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS: Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn G từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo L và G.
Về vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b Khoản 2 điều 106 BLTTHS:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu xanh thu giữ của Phạm Thị L và 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A23 màu đen thu giữ của Trần Văn G. Đây là phương tiện các đối tượng sử dụng để mua bán số lô trái phép.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 36.600.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Về án phí: Các bị cáo L và G phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT; VKSND huyện Trực Ninh; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú; Biên bản khám xét; Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/12/2024, tại nhà của mình ở thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, Phạm Thị L đã có hành vi bán số lô trái phép cho Trần Văn G với số tiền là 11.000.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số mở thưởng trong ngày, G đã trúng thưởng 25.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L và G đánh bạc trong ngày 14/12/2024 là 36.600.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Phạm Thị L và Trần Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với các bị cáo.
[3] Về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn có vai trò như nhau.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
4.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Phạm Thị L và Trần Văn G không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Phạm Thị L và Trần Văn G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền đánh bạc; Các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn đang nuôi con nhỏ, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo G được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS (tự thú khai nhận hành vi phạm tội của mình).
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Bị cáo Phạm Thị L và bị cáo Trần Văn G đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều đã bị tạm giữ 09 ngày. Vì vậy, về hình phạt HĐXX xét thấy áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo các bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do và đã bị áp dụng hình chính là phạt tiền, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:
7.1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu xanh thu giữ của Phạm Thị L và 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A23 màu đen thu giữ của Trần Văn G.
7.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 36.600.000 đồng là tiền L và G sử dụng vào mục đích đánh bạc, (gồm 11.000.000 đồng là tiền G mua số lô trái phép của L và 25.600.000 đồng là tiền G trúng lô vào ngày 14/12/2024). Các bị cáo G và L đã tự nguyện giao nộp đủ số tiền này tại cơ quan điều tra.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo L và bị cáo G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị L, Trần Văn G phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS: Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 BLHS: Xử phạt bị cáo Trần Văn G 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 15/12/2024 đến ngày 24/12/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Thị L và bị cáo Trần Văn G.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A32 màu xanh thu giữ của Phạm Thị L và 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A23 màu đen thu giữ của Trần Văn G (các vật chứng nêu trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 22/THA ngày 14/02/2025 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 36.600.000 đồng (ba mươi sáu triệu, sáu trăm nghìn đồng) là tiền các bị cáo L và G sử dụng vào mục đích đánh bạc (số tiền này đã được Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định vào ngày 14/02/2025).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Các bị cáo Phạm Thị L và Trần Văn G mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, các Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Dũng |
Bản án số 15/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 15/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
