TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HSST
Ngày: 14-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Bảo. |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Võ Trường Tam . |
| Ông Đặng Văn Vững. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Hứa Thị Cẩm Thảnh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thị Minh T, sinh ngày: 31/10/1989.
Nơi thường trú: 50/10B Huỳnh Tấn P, Khu phố A, thị trấn N, huyện N, Tp .; Nơi ở hiện tại: nhà không số, Hẻm B, đường T, Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D (C) và bà Phạm Thị Kim C; Bản thân có chồng tên Trương Thanh T1, có 02 con, lớn sinh năm: 2013, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án – tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Trần Minh L, sinh năm: 2001 (vắng mặt).
- Trần Ngọc T2, sinh năm: 2002 (vắng mặt).
Cư trú: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Cư trú: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 13/11/2024, Lê Thị Minh T thuê xe honda ôm chở đến khu vực cầu P thuộc phường T, Quận G, Tp . để gặp người thanh niên tên T3 (không rõ nhân thân) mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng và T được tặng kèm 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T đem ma túy về nhà phân chia ra thành nhiều gói nhỏ và cất giấu để sử dụng dần. Trong ngày 13/11/2024, T có lấy một ít ma túy ra sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15/11/2024, Công an xã L tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà không số H đường T, thuộc Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An do Lê Thị Minh T quản lý thì phát hiện tại khu vực bếp của căn nhà T đang thuê có cất giấu 01 túi da màu đen có khóa kéo màu vàng, bên trong túi da chứa 16 gói nylon, cụ thể gồm: 07 gói nylon có rãnh khép màu xanh lá; 04 gói nylon có rãnh khép màu đỏ; 01 gói nylon có rãnh khép màu xanh dương đậm; 01 gói nylon có rãnh khép màu trắng; 03 gói nylon được hàn kín, tất cả các gói nylon này bên trong đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy nên Công an xã L đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ số ma túy trên gửi giám định và mời T về trụ sở làm việc.
Tại Bản kết luận giám định số: 788/KL-KTHS, ngày 22/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 07 túi nylon có rãnh khép viền xanh lá; 04 túi nylon có rãnh khép viền đỏ; 01 túi nylon có rãnh khép viền xanh dương; 01 gói nylon có rãnh khép viền trắng và 03 gói nylon được hàn kín gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 3,6501 gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 18/CT-VKSCG, ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Thị Minh T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 3,4408 gam loại Methamphetamine.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Minh T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào khoảng 19 giờ, ngày 13/11/2024 bị cáo T đến khu vực cầu P thuộc phường T, Quận G, Tp . gặp người thanh niên tên T3 (không rõ nhân thân) mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng để sử dụng. Sau đó, T đem ma túy về nhà của mình thuê tại địa chỉ Hẻm B, đường tỉnh lộ 826C thuộc Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An chia thành nhiều gói nhỏ cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 23 giờ ngày 15/11/2024, Công an xã L kiểm tra phát hiện và nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Theo Kết luận giám định số: 788/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: ma túy bị cáo T tàng trữ có khối lượng 3,6501 gam, loại Methamphetamine. Ma túy bị cáo tàng trữ là loại Methamphetamine có khối lượng trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý . . ., nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang nuôi hai con còn nhỏ, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7] Đối với đối tượng tên T3 là người mà bị cáo T khai bán ma túy cho bị cáo ở khu vực vực cầu P thuộc phường T, Quận G, Tp ., hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C có Công văn số 545/CV-CSĐT, ngày 25/12/2024 thông báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Tp . để phối hợp xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
[8] Về tang vật thu giữ: Đối với ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 3,4408 gam, được đóng gói niêm phong là chất cấm, nên tịch thu tiêu hủy, là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Thị Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (14/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 3,4408 gam, loại Methamphetamine và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSCG, ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 14 tháng 02 năm 2025 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 14 tháng 02 năm 2025.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Đức Bảo. |
| Hội thẩm nhân dân: | Ông Võ Trường Tam . |
| Ông Đặng Văn Vững. |
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS, ngày 21/01/2025 đối với bị cáo: Lê Thị Minh Tâm.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
- Về tôi danh:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Minh Tâm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Về Điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Về hình phạt:
Xử phạt: Lê Thị Minh Tâm (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16/11/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (14/02/2025) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Các vấn đề khác:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Về tang vật: Tịch thu tiêu hủy: ma túy còn lại sau giám định có khối lượng: 3,4408 gam, loại Methamphetamine và vỏ bao đựng mẫu được niêm phong.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSCG, ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 30 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TOẠ |
VÕ TRƯỜNG TAM – ĐẶNG VĂN VỮNG | NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 15/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
