|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HSST Ngày 15 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Huận và ông Tưởng Ngọc Anh.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Duẫn, Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 02/4/2025 đối với bị cáo:
Trần Công N, sinh ngày 22 tháng 11 năm 1984, tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công L và bà Võ Thị H (đều đã chết); vợ Nguyễn Thị H1 và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/02/2006, bị Công an huyện Q xử phạt hành chính về hành vi cùng đồng bọn Cưỡng đoạt tài sản; ngày 24/10/2006, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/01/2025 đến nay, có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1955
Địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Đồng Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/01/2025 Trần Công N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu MAIESTY, biển kiểm soát 73K2-3047 theo đường Q đến nhà bà Nguyễn Thị Thu H1, trú tại thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình để chơi. Khi đến thấy nhà bà H1 khoá cổng, Nam quan sát xung quanh thấy không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. N lấy trong cốp xe mô tô một cái kìm sắt rồi trèo qua hàng rào trước nhà bà H1, đi đến vị trí cửa sổ phía trước có lưới théP B40 bao kín, N dùng kìm cắt lưới thép rồi đẩy cửa chui vào nhà. N đi vào phòng ngủ thấy bà H1 đang nằm ngủ, trên đầu giường có một điện thoại di động, N liền lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần sau đó đi ra theo lối đi vào và điều khiển xe mô tô chạy về nhà của mình. Khi về đến thôn P, xã Q, huyện Q thì bị lực lượng Công an xã kiểm tra phát hiện trong người Nam có một điện thoại nhãn hiệu OPPO A60, màu xanh đã qua sử dụng, N khai nhận đã lấy trộm tại nhà bà H1 và giao nộp điện thoại cùng các tang vật liên quan.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
Ngày 07/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tạm giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAIESTY, màu xanh, BKS 73K2- 3047; 01 (một) kìm cắt, làm bằng kim loại, dài 16cm, tay cầm được bọc nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy A60, màu xanh, số Sêri: b2a94922, đã qua sử dụng.
Ngày 13/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại tài sản 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy A60, màu xanh, số Sêri: b2a94922 cho bà Nguyễn Thị Thu H1 là chủ sở hữu tài sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy A60, màu xanh, số Sêri: b2a94922, có giá trị tại thời điểm tháng 01/2025 là 4.940.000 đồng.
Về dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Thu H1 sau khi nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm.
Bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSQT ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch truy tố Trần Công N vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 36; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công N từ 12 đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho Trần Công N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAIESTY, màu xanh, BKS 73K2- 3047; tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kìm cắt, làm bằng kim loại, dài 16cm Trần Công N sử dụng làm công cụ phạm tội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Công N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã biết sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ và hứa không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Công N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, tang vật vụ án đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[3] Có căn cứ xác định, vào khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 05/01/2025, Trần Công N đã có hành vi lén lút phá cửa đột nhập vào nhà của bà Nguyễn Thị Thu H1 lấy trộm 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, kiểu máy A60, màu xanh. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q, tài sản Nam trộm cắp của bà H1 trị giá 4.940.000 đồng (Bốn triệu, chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Hành vi của Trần Công N đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân; ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; bị cáo là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi cùng đồng bọn Cưỡng đoạt tài sản và bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, bị xử phạt 10 tháng tù nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lén lút lấy trộm tài sản của người khác thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 24/10/2006, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố là ông Trần Công L là người có công với Nhà nước, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo bị thoái hoá cột sống nên thu nhập không ổn định, HĐXX cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, thể hiện chính sách nhân đạo và khoan hồng của Nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu H1 đã nhận được tài sản bị mất và không có yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho Trần Công N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAIESTY, màu xanh, BKS 73K2- 3047; tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kìm cắt, làm bằng kim loại, dài 16cm Trần Công N sử dụng làm công cụ phạm tội là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Công N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 47; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 21 và 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Trần Công N phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Xử phạt Trần Công N 18 (Mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao Trần Công N cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thi hành án. Trần Công N phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với Trần Công N.
- Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
- Về vật chứng: Trả lại cho Trần Công N 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu MAIESTY, màu xanh, BKS 73K2- 3047; tịch thu tiêu huỷ 01 (một) kìm cắt, làm bằng kim loại, dài 16cm.
Các vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Về án phí: Buộc Trần Công N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/4/2025); bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc S |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Trần Đình Huận | Tưởng Ngọc Anh | Nguyễn Ngọc Sơn |
Bản án số 15/2025/HSST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo N bị truy tố về tội Trộm cắp tài sản
