Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4- LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HSST

Ngày: 11/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phàng A Chu; Ông Lý Ngọc Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mào Thị Chiến- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 4- Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Lai Châu tham gia phiên tòa:

Bà Lò Thị Kẻo- Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở TAND Khu vực 4- Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Pờ Hừ X, sinh năm 1994, tại tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản X, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu (nay là Bản X, xã P, tỉnh Lai Châu); Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: La Hủ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Pờ Go X1 (đã chết) và con bà Ky Lô B, sinh năm 1968; Bị cáo có chồng: Giàng Ha C, sinh năm 1990 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Mường Tè thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Vàng Xê C1, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Bản X, xã P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 31/5/2025. Pờ Hừ Xô một mình đi bộ từ nhà ở bản X, xã P, tỉnh Lai Châu đến bản M, cùng xã, để tìm mua H đem về sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, X gặp một người phụ nữ lạ mặt và mua của người này 02 gói Heroine, bên ngoài đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh, với giá 1.500.000 đồng.

Sau khi mua được H, X cất giấu toàn bộ 02 gói vào túi vải màu đỏ đen đang đeo trên người rồi đi bộ về nhà. Khi về đến nơi, X lấy một phần nhỏ trong một gói ra sử dụng hết, số còn lại gói lại như cũ và cất giấu tại vị trí ban đầu, không cho ai biết.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Vàng Xê C1 (sinh năm 1986, trú cùng bản) đến nhà X hỏi mua Heroine để sử dụng. X đồng ý và lấy một gói Heroine ra, trích một ít rồi gói lại bằng mảnh nilon màu trắng, bán cho C1 với giá 50.000 đồng. Số Heroine còn lại trong gói, Xô gói lại như cũ và cất vào túi vải đang đeo trên người.

Sau khi bán xong, X đi xuống bếp, còn C1 ở lại trong nhà, dùng bật lửa và giấy bạc mang theo để sử dụng số Heroine vừa mua được. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi C1 vừa sử dụng hết số Heroine thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng P1 đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 mảnh giấy bạc cùng 01 bật lửa gas màu đỏ mà C1 dùng để sử dụng ma túy.

Tại chỗ, C1 khai số Heroine vừa sử dụng do mua của Pờ Hừ X. Làm việc với tổ công tác, X thừa nhận hành vi bán Heroine cho C1 và tự nguyện giao nộp 02 gói Heroine (bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh) cùng số tiền 50.000 đồng thu được từ việc bán ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ và niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số 447/KL-KTHS ngày 02/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột khô, màu trắng thu giữ của P Hừ Xô gửi giám định có tổng khối lượng 6,54 gam, 02 mẫu vật (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là ma tuý, loại: Heroine (Heroin)

Tại bản cáo trạng số 16/CT- VKS-KV4 ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Lai Châu truy tố bị cáo Pờ Hừ X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Pờ Hừ X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Pờ Hừ X từ 07 năm 02 tháng đến 07 năm 08 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì do Đồn Biên phòng P1 phát hành bên trong có 6,23 gam Heroine; 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc túi màu đỏ, đen; 01 bật lửa gas màu đỏ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 tờ tiền Polime mệnh

giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) có mã số hiệu là YB 29567277, OR 14151098 và 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) có mã số hiệu SR 20559107.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 31/5/2025, tại nhà ở của Pờ H thuộc bản X, xã P, tỉnh Lai Châu, Pờ H đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho V Xê Chô với giá 50.000 đồng để C1 sử dụng.

Cũng tại địa điểm nêu trên, X còn cất giấu trái phép 6,54 gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, thì bị phát hiện, thu giữ. Số Heroine này cùng nguồn gốc với số Heroine mà X đã bán cho C1. Như vậy, Pờ Hừ X phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy (Heroine) với tổng khối lượng 6,54 gam. Do đó hành vi của bị cáo Pờ Hừ X đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi nêu trên của bị cáo Pờ Hừ X là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm

3

nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo của UBND xã P, tỉnh Lai Châu và không hiểu biết pháp luật. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản để đảm bảo thi hành án, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Những vấn đề liên quan đến vụ án: Pờ Hừ X khai nhận số Heroine có được là do một người phụ nữ lạ mặt không rõ nhân thân, lai lịch với giá 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được người phụ nữ này là ai. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác minh nguồn gốc số ma túy nêu trên. Do đó, không có căn cứ để xem xét xử lý đối với người phụ nữ lạ mặt theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

Đối với Vàng Xê C1: Quá trình điều tra xác định, sau khi mua được 01 gói Heroine từ Pờ H, C1 đã sử dụng hết toàn bộ số ma túy nêu trên, nên không còn mẫu vật để giám định và không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Do đó, Công an xã P đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vàng Xê C1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

- Việc Vàng Xê C1 sử dụng ma túy tại nhà của Pờ H, quá trình điều tra xác định C1 tự ý sử dụng ma túy tại nhà của X, X không biết, không nhìn thấy. Do đó không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Pờ Hừ X về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

4

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,31 gam Heroine đã trích gửi đi giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập giải quyết. Vật chứng còn lại 01 phong bì do Đồn Biên phòng P1 phát hành bên trong có 6,23 gam Heroine; 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc túi màu đỏ, đen; 01 bật lửa gas màu đỏ. Heroine là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, các vật chứng khác không còn giá trị sử dụng. Nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) có mã số hiệu là YB 29567277, OR 14151098 và 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) có mã số hiệu SR 20559107. Đây là tiền do bị cáo có được do bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo của UBND xã P, tỉnh Lai Châu. Nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Pờ Hừ X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do Đồn Biên phòng P1 phát hành bên trong có 6,23 gam Heroine; 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc túi màu đỏ, đen; 01 bật lửa gas màu đỏ.
  4. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 tờ tiền Polime mệnh giá 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) có mã số hiệu là YB 29567277, OR 14151098 và 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) có mã số hiệu SR 20559107.

5

(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4- Lai Châu ngày 10/11/2025).

  1. Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND Khu vực 4 (01);
  • - Phân trại tạm giam Mường Tè- (01);
  • - PC 10; PC11 CA tỉnh (02);
  • - Phòng THADS Khu vực 4 (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HSST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger