Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS - PT

Ngày: 14 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưởng và ông Nguyễn Đức Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLHS-PT ngày 04/02/2025 đối với bị cáo Trần Duy T, do có kháng cáo của bị báo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HSST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Duy T, sinh năm 1960 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn E Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Duy H (đã chết) và bà Trần Thị N; vợ: Trần Thị T1 (đã chết); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và đã chết vào ngày 22/02/2025 theo Trích lục khai tử số 24/TLKT ngày 26/02/2025 của UBND xã C.

Bị hại: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1949; nơi cư trú: Thôn D Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam (đã chết).

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Chị Trần Thị Ư, sinh năm 1971; anh Trần Quốc T2, sinh năm 1973; anh Trần Doãn T3, sinh năm 1977; chị Trần Thị L, sinh năm 1982; cùng nơi cư trú: Thôn D Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; chị Trần Thị Châu L1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại không kháng cáo: Anh Trần Quốc T2, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn D Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Duy T không có giấy phép lái xe môtô theo quy định. Khoảng 19 giờ ngày 02/9 2024, sau khi uống rượu tại nhà, Trần Duy T điều khiển xe mô tô BKS: 90B1-372.93 đi chơi, một lúc sau T điều khiển xe mô tô quay về theo đường liên thôn từ thôn D Đ đi thôn E Đ, xã C. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi qua nhà bà Trần Thị N1, lúc này do trời tối và không chú ý quan sát phía trước nên khi thấy bà N1 đang đi bộ phía trước cùng chiều, ở khoảng cách gần, T không giảm tốc độ mà đánh lái sang bên trái để tránh nhưng không kịp dẫn đến phần bánh trước xe mô tô do T điều khiển đâm vào bà N1. Hậu quả: Bà N1 bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh H, đến 03 giờ 15 phút ngày 03/9/2024 thì tử vong; Trần Duy T bị thương tích phải đi Bệnh viện Đ khám điều trị.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phương tiện xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại đường liên thôn thuộc địa phận thôn D Đ, xã C, huyện L. Đường rộng 5,5m, mặt đường được trải nhựa tương đối bằng phẳng, đường thẳng. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn không có biển báo giao thông, mặt đường có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt phân chia đường thành hai chiều riêng biệt, không có chướng ngại vật trên đường. Bên phải đường theo hướng từ thôn D Đ đi thôn E Đ có lắp đèn điện chiếu sáng. Sau khi xảy ra tai nạn, xe mô tô BKS: 90B1-372.93 đổ nghiêng bên trái, gần giữa đường, đầu xe hướng đi thôn E Đ, đuôi xe hướng đi thôn D Đ, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn lần lượt là 2,3m và 2m; trên mặt đường có vết mài sạt không liên tục dài 6,2m, rộng 0,25m có hướng từ thôn D Đ đi thôn E Đ, điểm đầu và điểm cuối của vết mài sạt cách mép đường chuẩn lần lượt là 1,75m và 2,2m; có tổ hợp chất màu nâu đỏ kích thước (0,15 x 0,1)m, điểm gần nhất cách mép đường chuẩn là 1,8m; có tổ hợp chất dạng bãi nên kích thước (0,2 x 0,5)m, điểm gần nhất cách mép đường chuẩn là 0,1m.

Khám xe môtô BKS: 90B1-372.93: Mặt nạ xe phía trước và cánh yếm bên phải bị nứt vỡ nhựa hướng từ trước về sau, cánh yếm bên phải có vết chùi bụi hướng từ trước về sau, mặt ngoài má lốp bánh trước bên phải có vết trượt chùi bụi hướng từ ngoài vào tâm.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma túy đối với Trần Duy T ngày 03/9/2024 xác định: Nồng độ cồn trong máu là: 228,1mg/100ml; Âm tính với ma túy.

Ngày 03/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 702/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H giám định nguyên nhân tử vong của bà Trần Thị N1.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 46/KLGĐTT-TTGĐYK&PY ngày 23/9/2024 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H, kết luận: “Do không mổ tử thi nên không đủ căn cứ kết luận nguyên nhân tử vong của bà Trần Thị N1".

Ngày 24/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 804/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H giám định nguyên nhân tử vong của bà Trần Thị N1 trên hồ sơ bệnh án.

Tại bản Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 14/KLTTHS-TTGĐYK&PY ngày 10/10/2024 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh H, kết luận: “Bà Trần Thị N1 tử vong do chấn thương sọ não rất nặng không đáp ứng với điều trị”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Duy T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bà Trần Thị N1 tổng số tiền 100.000.000 đồng. Anh Trần Quốc T2 (con trai bà N1) không yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HSST ngày 25/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam quyết định:

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Trần Duy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Trần Duy T 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/12/2024, bị cáo Trần Duy T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam có quan điểm: Bị cáo vắng mặt tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu mà Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam nhận được như: Văn bản số 29/TB-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2025 của UBND xã C có nội thông báo cho Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam biết việc bị cáo Trần Duy T đã chết do bệnh nặng và theo Trích lục khai tử số 24/TLKT ngày 26/02/2025 của UBND xã C cũng thể hiện việc bị cáo Trần Duy T đã chết. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 157, Điều 355, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 25/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và đình chỉ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Duy T có nội dung và hình thức phù hợp, được làm trong thời hạn luật định theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Bị cáo đã chết, người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại không kháng cáo. Căn cứ đề nghị của Kiểm sát viên và quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị cáo Trần Duy T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người người làm chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, sơ đồ hiện trường, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 02/9/2024, Trần Duy T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, sử dụng rượu, bia mà nồng độ cồn trong máu là 228,1mg/dl, điều khiển xe mô tô BKS: 90B1-37293 đi trên đường thôn hướng từ thôn D đến thôn E xã C, huyện L. Do không chú ý quan sát nên gây tai nạn dẫ đến hậu quả làm bà Trần Thị N1 chết vào hồi 03 giờ 15 phút ngày 03/9/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Do đó Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 06 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Duy T có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm hình phạt và cho hưởng án treo. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam nhận được các tài liệu, gồm: Văn bản số 29/TB-UBND ngày 22 tháng 02 năm 2025 của UBND xã C có nội dung thông báo cho Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam biết bị cáo Trần Duy T đã chết vào ngày 22/02/2025 do bệnh nặng và theo Trích lục khai tử số 24/TLKT ngày 26/02/2025 của UBND xã C cũng thể hiện việc bị cáo Trần Duy T đã chết.

Hội đồng xét xử thấy: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên về việc đề nghị áp dụng quy định tại khoản 7 Điều 157; điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 25/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và đình chỉ vụ án là đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Trần Duy T 01 (một) xe mô tô BKS: 90B1-37293, nhãn hiệu HONDA, loại WaveS, số máy 4387612, số khung 5210CY260693, màu sơn trắng - vàng - đen, xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng sau tai nạn và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 047531.

[6] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 7 Điều 157; điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam và đình chỉ vụ án về hình sự đối với bị cáo Trần Duy T.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Trần Duy T 01 (một) xe mô tô BKS: 90B1-37293, nhãn hiệu HONDA, số loại WaveS, số máy 4387612, số khung 5210CY260693, màu sơn trắng - vàng - đen, xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng sau tai nạn và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 047531. Đại diện hợp pháp cho những người thừa kế của bị cáo có quyền liên hệ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam để nhận lại tài sản trên.

3. Bị cáo Trần Duy T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND huyện Lý Nhân;
  • - Công an huyện Lý Nhân;
  • - Chi cục THADS huyện Lý Nhân;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 15/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ ngày 02/9/2024, Trần Duy T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, sử dụng rượu, bia mà nồng độ cồn trong máu là 228,1mg/dl, điều khiển xe mô tô BKS: 90B1-37293 đi trên đường thôn hướng từ thôn D đến thôn E xã C, huyện L. Do không chú ý quan sát nên gây tai nạn dẫ đến hậu quả làm bà Trần Thị N1 chết vào hồi 03 giờ 15 phút ngày 03/9/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H. Do đó Toà án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo mức án 06 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger