TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày: 30/9/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hữu Thành và bà Nguyễn Thị Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17- tỉnh Phú Th1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 17 - Phú Th1 tham gia phiên tòa: Ông Lê Hiệp Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án Khu vực 17 – Phú Th1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/ TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2025/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn Th, sinh ngày 20/11/1994; nơi cư trú: Xóm Đầm Bai, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 01/12; dân tộc: Mường; giới Th: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Quân và bà Bùi Thị Kiệm; bị cáo có vợ là Lò Thị Hoan; con có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân của bị cáo:
Ngày 31/10/2017, Bùi Văn Th bị Công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt hành chính số 160/QĐ-XPHC ngày 31/10/2025 của Công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, nay đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa vi phạm.
Ngày 17/4/2018 Bùi Văn Th bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy (nay là TAND khu vực 17-Phú Th1) xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tại bản án số 12/2018/HS-ST về tội trộm cắp tài sản; Bản án số 33/2018/HS-ST ngày 21/11/2018 bị xử phạt 18 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 26 tháng tù giam; ngày 30/7/2021 tại Bản án số 20/2021/HS-ST của TAND huyện Yên Thủy (nay là TAND khu vực 17-Phú Th1) xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Th đến ngày 28/6/2025 bị cáo đã được xóa án tích đối với cả 03 bản án nêu trên.
Ngày 09/3/2025 Bị cáo thực hiện hành vi Lạm dụng T nhiệm chiếm đoạt tài sản, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố vụ án theo quyết định số A529/QĐ-CSHS ngày 17/7/2025 và Quyết định khởi tố bị can số A870/QĐ-CSHS ngày 17/7/2025. Hiện vụ án đang được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội điều tra làm rõ.
Bị cáo Bùi Văn Th đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2025 đến nay tại trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Phú Th1 (có mặt).
Bị hại:
- Anh Đinh Văn C, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm Vố Dấp, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1 (vắng mặt).
- Chị Đinh Thị Ch, sinh năm 1988 (vợ anh Đinh Văn C); địa chỉ: Xóm Vố Dấp, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1 (Có mặt).
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Văn Th1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn M Long, xã Gia Lâm, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Liên Ba, xã An Bình, tỉnh Phú Th1 (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Đào Quang M, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Trung Chính, xã Gia Lâm, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- Anh Bùi Văn L, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm Phủ Vệ, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 40, ngày 28/6/2025, Bùi Văn Th đang đi bộ trên đường từ xóm Vố Dấp đi xóm Phủ vệ, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1 thì Th thấy cách đường đi khoảng 7m về phía bên trái đường có một chuồng bò của gia đình anh Đinh Văn C, trú tại xóm Vố Dấp, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1. Tại hiên chuồng bò có 02 con bò gồm 01 con bò cái, màu lông vàng khoảng 07 năm tuổi được buộc bằng dây thừng vào cột tại hiên nhà và 01 con bò cái khoảng 07 tháng tuổi. Th quan sát xung quanh không thấy có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 con bò này. Th đi đến chuồng bò gỡ dây buộc bò ở cột nhà và dắt đi, đồng thời Th đuổi con bò cái nhỏ hơn đi theo. Th dắt bò đi bộ theo đường liên xóm từ xóm Vố Dấp đi về xóm Phủ Vệ, sau đó đi về xóm Đầm Bai để tránh bị phát hiện. Khi đến địa phận xóm Đầm Bai Th dắt bò vào vườn bưởi của gia đình Th và buộc con bào lại vào cây bưởi trong vườn. Sau đó Th sử dụng điện thoại Iphone 6 màu vàng, gắn sim số 0965.576.173, bật chế độ tìm kiếm trên google bằng giọng nói để tìm số người có nhu cầu mua bò để bán 02 con bò vừa trộm cắp được, sau đó Th gọi điện cho người mua bò là Đào Quang M, trú tại thôn Trung Chính, xã Gia Lâm, tỉnh Ninh Bình và nói dối đây là bò của gia đình muốn bán, đồng thời chụp ảnh gửi qua zalo hẹn sáng ngày 29/6/2025 đến địa phận xóm Đầm Bai, xã Yên Trị để bán bò. Đến sáng ngày 29/6/2025 do có việc bận nên anh M không đến mua bò của Th được, anh M gọi điện cho anh Trương Văn Th1, trú tại thôn M Long, xã Gia Lâm, tỉnh Ninh Bình và nhắn số của Th cho anh Th1 để anh Th1 đến mua bò của Th. Sau đó anh Th1 gọi điện thoại cho Th để thỏa thuận mua bán bò với Th, hẹn gặp nhau để thương lượng giá cả. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/6/2025, Th1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88k-2723 đến chỗ Th đang cột bò. Tại đây, Th nói hai con bò do Th làm chủ sở hữu, sau khi xem xong anh Th1 đồng ý mua bò với giá là 23.300.000 đồng, Th đồng ý bán bò. Anh Th1 trả cho Th số tiền 23.300.000 đồng, sau đó Th bỏ trốn ra địa bàn thành phố Hà Nội và chi tiêu hết số tiền trên.
Sau khi mua được 02 con bò của Th, ngày 29/6/2025 anh Trương Văn Th1 đã bán 02 con bò trên cho ông Trần Văn T, trú tại thôn Liên Ba, xã An Bình, tỉnh Phú Th1 với giá 27.900.000 đồng.
Ngày 04/7/2025 Th đã nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm quy định của pháp luật nên đã đến cơ quan Công an xin đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.
Cơ quan điều tra đã thu giữ được 02 can bò là tang vật của vụ án và bàn giao cho anh Đinh Văn C, sinh năm 1985, trú tại xóm Vố Dấp, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1 là chủ sở hữu hợp pháp chăm sóc, quản lý trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Th1 kết luận 01 con bò ta giống cái 07 năm tuổi, màu vàng, có trọng lượng 285kg tại thời điểm ngày 28/6/2025 có giá 19.500.000 đồng; 01 con bò ta giống cái 07 tháng tuổi, màu vàng có trọng lượng 145kg tại thời điểm ngày 28/6/2025 có giá 10.150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 30.100.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-KV17 ngày 09/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 17 truy tố bị cáo Bùi Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Phú Th1, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Văn Th từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù Th từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 133, Điều 167, Điều 579, điều 580 Bộ luật dân sự. Anh Trương Văn Th1 đã thỏa thuận mua 02 con bò của Bùi Văn Th với số tiền là 23.300.000 đồng, nhưng anh Th1 không biết đây là tài sản do Th trộm cắp mà có. Hiện 02 con bò trên đã được cơ quan điều tra thu hồi và giao lại cho gia đình anh Đinh Văn C là bị hại chăm sóc, quản lý. Buộc Bùi Văn Th phải trả lại số tiền 23.300.000 đồng cho anh Trương Văn Th1 theo yêu cầu của anh Trương Văn Th1.
Ghi nhận việc anh Trương Văn Th1 tự thảo thuận trả lại số tiền 27.900.000 đồng cho ông Trần Văn T.
Người bị hại anh Đinh Văn C đã nhận lại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt, nay anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX giao cho anh Đinh Văn C được toàn quyền sở hữu, định đoạt đối với tài sản gồm: 01 con bò ta giống cái, 7 năm tuổi, màu vàng, có trọng lượng 285 kg; 01 con bò ta giống cái, 7 tháng tuổi, màu vàng, có trọng lượng 145 kg, đây là tài sản mà Bùi Văn Th đã trộm cắp của gia đình anh Đinh Văn C ngày 28/6/2025, tại xóm Vố Dấp, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1.
Bị cáo Bùi Văn Th đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Phú Th1 truy tố.
Bị cáo Th nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng Hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Th1, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 17 - Phú Th1 và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo là rõ ràng phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu được cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 28/6/2025 tại xóm Đầm Bai, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1. Bị cáo Bùi Văn Th đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình anh Đinh Văn C. Th đã lén lút chiếm đoạt tài sản của gia đình anh Đinh Văn C 02 con bò (01 con bò ta giống cái, 7 năm tuổi, màu vàng, có trọng lượng 285kg; 01 con bò ta giống cái, 7 tháng tuổi, màu vàng, có trọng lượng 145kg). Tổng giá trị tài sản của 02 con bò trên có trị giá 30.100.000₫ (ba mươi triệu một trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Bùi Văn Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Th là nguy hiểm gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn; đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân là những khách thể được luật hình sự Việt Nam nghiêm cấm và bảo vệ, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức việc làm của mình là sai trái. Xong vì muốn kiếm lời bất chính và coi thường pháp luật nên bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại, lỗi của bị cáo trong vụ án là cố ý trực tiếp. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Bùi Văn Th không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị Công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐ-XPHC ngày 31/10/2017 về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền, bị cáo đã chấp hành xong quyết định, nay đã được xóa vi phạm; tiếp đến tại bản án số 12/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 17-Phú Th1) xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản; đến ngày 21/11/2018 Bùi Văn Th bị Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 17-Phú Th1) xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 26 tháng tù giam theo bản án số 33/2018/HS-ST; Tại bản án số 20/2021/HS-ST ngày 30/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 17-Phú Th1) xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đến ngày 28/6/2025 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và quyết định khác của bản án và đã được xóa án tích. Ngoài ra ngày 09/3/2025 Bị cáo còn thực hiện hành vi Lạm dụng T nhiệm chiếm đoạt tài sản, hiện Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra làm rõ. Vì vậy nhân thân của bị cáo cũng cần được xem xét khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Th đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Hình phạt chính: Trên cơ sở xem xét, đánh giá Th chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Bùi Văn Th không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Đinh Văn C (vợ là Đinh Thị Ch) đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, tại phiên tòa hôm nay chị Ch thay mặt gia đình không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.
-Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trương Văn Th1 là người đã mua 02 con (01 con bò ta giống cái, 7 năm tuổi, màu vàng, có trọng lượng 285kg; 01 con bò ta giống cái, 7 tháng tuổi, màu vàng, có trọng lượng 145kg) của Th với số tiền 23.300.000 đồng, khi mua anh Th1 không biết 02 con bò do bị cáo Th trộm cắp mà có, nên anh Th1 không có lỗi, hiện 02 con bò trên đã được cơ quan điều tra thu hồi và giao lại cho bị hại gia đình anh Đinh Văn C và chị Đinh Thị Ch. Nay anh Th1 yêu cầu bị cáo Th phải trả lại số tiền 23.300.000 đồng nên buộc bị cáo Th phải trả lại cho anh Th1, số tiền anh Th1 yêu cầu là có căn cứ.
-Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T đã nhận lại số tiền 27.900.000 đồng từ anh Trương Văn Th1, nay không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nữa, nên không đề cập giải quyết.
[7] Về vật chứng vụ án: 02 con (01 con bò ta giống cái, 7 năm tuổi, màu vàng, có trọng lượng 285kg; 01 con bò ta giống cái, 7 tháng tuổi, màu vàng, có trọng lượng 145kg), Cơ quan điều tra đã giao cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đinh Văn C và chị Đinh Thị Ch, nay giao cho anh C, chị Ch toàn quyền sở hữu, định đoạt đối với tài sản trên.
Đối với chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc tìm người mua bò, sau khi bán được bò, bị cáo đã vứt chiếc điện thoại trên tại khu vực xóm Đầm Bai, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1, cơ quan Điều tra đã truy tìn nhưng không thu lại được, do vậy Cơ quan Cảnh sát Điều tra sẽ tiếp tục truy tìm để xử lý sau là có căn cứ.
Đối với số tiền 23.300.000đ (hai mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo có được do từ hành vi phạm tội mà có, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết số tiền trên và không nhớ đã chi tiêu ở những đâu nên cơ quan điều tra không truy thu được số tiền trên, vì vậy không đề cập giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Th phải nộp án phí hình sự và dân sự theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các điều 331, điều 332, điều 333, điều 334 và điều 335 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về vấn đề khác:
Trong vụ án có anh Đào Quảng M là người đã giới thiệu cho anh Trương Văn Th1 mua bò của Th, anh M không biết đây là tài sản do Th phạm tội mà có, anh M cũng không được hưởng lợi gì nên cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề xuất xử lý với những người này là có căn cứ pháp luật.
Đối với anh Trương Văn Th1 là người đã mua 02 con bò do bị cáo trộm cắp được mà có. Qua điều tra đã làm rõ khi mua anh Th1 không biết. Quá trình điều tra anh Th1 đã tự nguyện giao 02 con bò, do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý hành vi của anh Th1 là có căn cứ.
Đối với anh Trần Văn T là người đã mua lại 02 con bò của anh Trương Văn Th1. Qua điều tra đã làm rõ khi mua anh T không biết đây là tài sản liên quan đến phạm tội mà có, do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý hành vi của anh T là có căn cứ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Th tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn Th 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù Th từ ngày tạm giữ, tạm giam 04/7/2025. - Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các điều 46, điều 47, điều 48 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 133, Điều 167, Điều 579, điều 580 Bộ luật dân sự.
- - Buộc bị cáo Bùi Văn Th phải chịu trách nhiệm trả lại cho anh Trương Văn Th1 số tiền là 23.300.000đ (hai mươi ba triệu, ba trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người thi hành án không thanh toán khoản tiền phải thi hành án, thì hàng tháng phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức mức lãi xuất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. - - Ghi nhận việc anh Trương Văn Th1 tự thỏa thuận trả lại số tiền 27.900.000 đồng cho ông Trần Văn T.
- - Giao cho anh Đinh Văn C được toàn quyền sở hữu, định đoạt đối với tài sản gồm: 01 con bò ta giống cái, 7 năm tuổi, màu vàng, có trọng lượng 285 kg; 01 con bò ta giống cái, 7 tháng tuổi, màu vàng, có trọng lượng 145 kg, đây là tài sản mà Bùi Văn Th đã trộm cắp của gia đình anh Đinh Văn C ngày 28/6/2025, tại xóm Vố Dấp, xã Yên Trị, tỉnh Phú Th1.
- - Buộc bị cáo Bùi Văn Th phải chịu trách nhiệm trả lại cho anh Trương Văn Th1 số tiền là 23.300.000đ (hai mươi ba triệu, ba trăm nghìn đồng).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Bùi Văn Th phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.165.000₫ (một triệu một trăm sáu mươi năm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1; khoản 4 Điều 331; khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Th1.
Trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Bùi Thị Lan |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn Th bị VKS truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" qui định tại khoản 1 Điều 173 BLHS
