Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

Bản án số: 15/2025/HS - ST

Ngày: 28 - 10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Anh Trình và ông Nguyễn Xuân Hành

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Dương Đại Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 đối với:

- Bị cáo Hoàng Văn L, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1995 tại xã L, tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký thường trú: Thôn L, xã L, tỉnh Quảng trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn C, sinh năm: 1961, Con bà: Bùi Thị L1, sinh năm: 1967; Có vợ Trần Thị H và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, theo Lệnh trích xuất bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Việt H1, sinh năm 1988, địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Chị Trần Thị H, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 7 năm 2025, Hoàng Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 73K4-9504 (của anh Trần Việt H1, sinh năm 1988 ở xã T, tỉnh Quảng Trị) chạy từ nhà của mình ở thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị đến thôn M, xã T, tỉnh Quảng Trị để mua ma túy về sử dụng. Khi đến, L gặp và mua của nam thanh niên lạ mặt, không rõ danh tính địa chỉ cụ thể với số tiền 300.000 đồng tiền ma túy đá được đựng trong 01 túi nilon trong suốt. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô trên đường về nhà, khi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn M, xã T, tỉnh Quảng Trị thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an xã T, tỉnh Quảng Trị tuần tra, kiểm tra trên địa bàn xã T, phát hiện, bắt giữ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ phương tiện, niêm phong tang vật.

Kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 10/7/2025, Phòng K Công an tỉnh Q, kết luật: Chất tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon trong suốt “Mẫu ký hiệu A” gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,496g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Cơ quan Công an thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô BKS 73K4-9504; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5 màu xanh đen. Tất cả có đặc điểm mô tả như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/7/2025.

Tại Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSND-KV4 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi bổ sung theo Điều 18 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, sửa đổi bổ sung theo Điều 18 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì hoàn cảnh bị cáo có 03 con nhỏ, công việc thu nhập của bị cáo không ổn định.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 0,387g (không phẩy ba trăm tám mươi bảy gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm và bao gói không có giá trị sử dụng;

Quá trình điều tra, các vật chứng thu giữ được sau đây không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho chủ sở hữu:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream II, màu trắng đỏ, BKS: 73K4-9504, số khung số khung: VHSPCG0071H007199, số máy: CT100E1849137, đã qua sử dụng của anh Trần Việt H1;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh đen có số IMEI:865413048342553, đã qua sử dụng, của chị Trần Thị H.

Đề nghị tuyên buộc bị cáo L chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng, và Bản luận tội của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

[2] Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên toà, bị cáo L đã khai nhận hành vi của mình, cụ thể: khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 02 tháng 7 năm 2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Hoàng Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73K4-9504 của anh Trần Việt H1, chạy từ nhà của mình ở thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị đến thôn M, xã T, tỉnh Quảng Trị, bị cáo gặp và mua của nam thanh niên lạ mặt, không rõ danh tính địa chỉ cụ thể với số tiền 300.000 đồng, người thanh niên giao cho L ma túy đá được đựng trong 01 túi nilon trong suốt, bị cáo L mua ma tuý mục đích về để sử dụng. Sau khi mua xong, khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô trên đường về nhà, khi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn M, xã T, tỉnh Quảng Trị thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an xã T, tỉnh Quảng Trị tuần tra, kiểm tra phát hiện, bắt giữ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ phương tiện, niêm phong tang vật. Kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 10/7/2025, Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Chất tinh thể màu trắng đựng trong túi nilon trong suốt “Mẫu ký hiệu A” gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,496g. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định này.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng do thoả mãn nhu cầu không lành mạnh của bản thân đã cố tình thực hiện hành vi mua mục đích để sử dụng trái phép là xâm phạm chế độ quản lý nhà nước đối với chất ma túy. Do vậy, hành vi của bị cáo L đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 18 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Quảng Trị đã truy tố và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo L quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Ma túy là loại chất gây nghiện, gây hại lớn cho sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu tới chất lượng giống nòi, nguồn lực lao động chính phát triển xã hội; Là nguồn nguy cơ, mầm móng của nhiều tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, vì vậy để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời có hình thức cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội phạm này.

Về hình phạt bổ sung đối với bị cáo: nhận nhấy hoàn cảnh bị cáo có 03 con nhỏ, công việc và thu nhập của bị cáo không ổn định, do đó miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Các đối tượng liên quan trong vụ án:

  • - Đối tượng đã bán ma túy cho Hoàng Văn L: Quá trình điều tra không đủ thông tin, tài liệu để tiến hành điều tra, xác định được thanh niên đã bán ma túy cho Hoàng Văn L nên không xác minh được không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với Trần Việt H1, sinh năm: 1988 trú tại xã T, tỉnh Quảng Trị đã cho Hoàng Văn L mượn xe mô tô BKS: 73K4-9504 của mình vào ngày 02/7/2025, quá trình điều tra đã làm rõ việc Hoàng Văn L sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy thì anh H1 không biết nên không có cơ sở để xử lý.
  • - Đối với Trần Thị H, sinh năm: 1988 trú tại xã T, tỉnh Quảng Trị đã cho Hoàng Văn L mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh đen để đem theo bên người trong lúc ra ngoài, quá trình điều tra đã làm rõ L không sử dụng điện thoại trên vào việc mua ma túy. Việc Hoàng Văn L mua ma túy thì Trần Thị H không biết nên không có cơ sở xử lý.

[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, nhận thấy 0,387g (không phẩy ba trăm tám mươi bảy gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định là chất cấm và bao gói không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Quá trình điều tra, các vật chứng thu giữ được sau đây không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream II, màu trắng đỏ, BKS: 73K4-9504, số khung số khung: VHSPCG0071H007199, số máy: CT100E1849137, đã qua sử dụng của anh Trần Việt H1;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh đen có số IMEI:865413048342553, đã qua sử dụng, của chị Trần Thị H.

[7] Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 18 Luật số 86/2015/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự; Tuyên xử:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/7/2025.

    Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo L.

  3. Xử lý vật chứng:
  4. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy: 0,387g Methamphetamine mẫu ký hiệu A sau giám định được chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài có ghi nội dung “A” và vỏ bao gói, được bỏ vào bì thư dán kín, trên ghi nội dung “761/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt;
    • - Trả lại cho anh Trần Việt H1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream II, màu trắng đỏ, BKS: 73K4-9504, số khungsố khung: VHSPCG0071H007199, số máy: CT100E1849137, đã qua sử dụng;
    • - Trả lại cho chị Trần Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 màu xanh đen có số IMEI:865413048342553, đã qua sử dụng;

    Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án Dân sự Khu vực 4, tỉnh Quảng Trị.

  5. Án phí Hình sự sơ thẩm:
  6. Buộc bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSNDKV4 - Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Quảng Trị;
  • - PV 06 Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - THADS KV4 - Quảng Trị;
  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS - ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Lợi bị VKS truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger