TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:15/2025/HS-ST
Ngày 27 tháng 11 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Mấy - Nghề nghiệp, nơi công tác: Nguyên Phó Chủ tịch Hội LHPN huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá.
- Bà Ngô Thị Lan - Nghề nghiệp, nơi công tác: Hiệu trưởng Trường tiểu học Trung Lý, xã Trung Lý, tỉnh Thanh Hoá.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Nam - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Hà Văn T, sinh ngày 24/9/2005, tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Hà Văn M, sinh năm 1975, con bà Cao Thị N, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Vi Văn Q, sinh ngày 22/8/2001, tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; con ông Vi Văn T1 (đã chết), con bà Hà Thị M1 (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Tuấn H, sinh ngày 18/6/2003, tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Phạm Bá H1, sinh năm 1978, con bà Cao Thị Y, sinh năm 1981; bị cáo có vợ là Ngân Ngọc L, sinh năm 2005 và 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Bá H2, sinh ngày 30/5/2003, tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Phạm Bá C1 (đã chết), con bà Cao Thị C2, sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Lê Tuấn K, sinh ngày 16/3/2006, tại tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn G, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Lê Văn B, sinh năm 1979, con bà Hà Thu L1, sinh năm 1986; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Bá H3, sinh ngày 24/7/2007, tại tỉnh Thanh Hóa (tính đến thời điểm phạm tội được 17 năm 01 tháng 04 ngày tuổi); số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Bản Chiềng, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Phạm Bá N1 (đã chết), con bà Lương Thị D, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Lương Mạnh C3, sinh ngày 11/03/2007, tại tỉnh Thanh Hóa (tính đến thời điểm phạm tội được 17 năm 5 tháng 17 ngày tuổi); số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Bản Cụm, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Lương Văn T2, sinh năm 1983, con bà Vi Thị H4, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Lê Tiến Đ, sinh ngày 21/03/2007, tại tỉnh Thanh Hóa (tính đến thời điểm phạm tội được 17 năm 5 tháng 07 ngày tuổi); số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn D, xã H, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Lê Minh N2, sinh năm 1978, con bà Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Phạm Quang H5, sinh ngày 22/10/2007, tại tỉnh Thanh Hóa (tính đến thời điểm phạm tội được 16 năm 10 tháng 06 ngày tuổi); số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Bản T, xã T, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Phạm Bá H6, sinh năm 1980, con bà Phạm Thị C4, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Tiến Đ, Lê Tuấn K và Phạm Bá H3: Bà Nguyễn Thị Ngọc T3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Phạm Bá L2, sinh năm 1977.
- Cháu Hà Tất T4, sinh năm 2009.
- Cháu Hà Chí T5, sinh năm 2007.
- Cháu Hà Anh Q3, sinh năm 2004.
- Cháu Bùi Văn L4, sinh ngày 20/8/2007.
- Cháu Lương Gia B1, sinh năm 2009.
- Cháu Phạm Mạnh T6, sinh năm 2010.
Người giám hộ của cháu Hà Tất T4: Anh Hà Văn L3, sinh năm 1984.
Người giám hộ của cháu Hà Chí T5: Anh Hà Hồng Q2, sinh năm 1983.
Người giám hộ của cháu Lương Gia B1: Anh Lương Văn H7, sinh năm 1988.
Người giám hộ của cháu Phạm Mạnh T6: Anh Phạm Bá T7, sinh năm 1985.
( Tại phiên tòa vắng mặt tất cả những người làm chứng và người giám hộ ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23h 00 đêm 28/8/2024 tại khu C thuộc khu D thị trấn H (Nay là xã H), Lương Gia B1 học sinh cấp 3 Trường P có mâu thuẫn với Hà Văn T và Vi Văn Q ở khu K xã H, tỉnh Thanh Hóa, trong lúc cãi nhau thì B1 đi gọi Hà Chí T5 bạn học cùng phòng trọ, Hà Tất T4 là bạn học ở khu trọ khác gần đó, và gọi điện thoại cho Lê Tuấn K cũng là bạn học trú ở khu G xã H, nội dung B1 gọi thông báo cho T5, T4, K là B1 bị người khu Khằm chặn đánh ở chỗ chợ cóc, khu D xã H. Xong đó B1 cầm lấy 1 ống điếu thuốc lào ở khu nhà trọ mang theo đi đến chỗ cũ gặp Hà Văn T và Vi Văn Q. Sau khi được B1 thông tin, Hà Chí T5, Hà Tất T4, Lê Tuấn K, Hà Văn D1 đi đến khu C ở trước khu nhà trọ ở khu D xã H, thấy B1 đang cãi cọ, chửi nhau với T và Q, thấy vậy K đến nói chuyện để giảng hòa, nhưng không thành, hai bên chửi bới nhau, sau đó Q và T8 bỏ đi, Q đi về khu K xã H, còn T đi về phía khu 5 xã H, sau đó rẽ vào đường nhánh khu 4 (Đường vào Bệnh viện Đ2) và ngược theo đường bờ sông. Thấy T và Q bỏ chạy Lương Gia B1 nói với T4, K, T5, D1 là "Đuổi theo, đuổi theo", Ngay lúc đó Hà Tất T4 lấy xe máy của B1 chở B1, lúc này có Phạm Bá H3 đi đến và cùng đi với B1 và T4, T5 đi xe máy chở D1, còn K đi xuống khu G xã H. Nhóm B1 nhìn thấy hướng đi của T, nên B1, T4, H3, T5, D1 đi ngược lên phía khu C thị trấn H (N là xã H) ra đường bờ sông đi xuống hướng khu 4 để đón tìm T. Khi B1, T4, T5, D1, đi đến đoạn đường phía sau bệnh viện Đ2 thì gặp T đang chạy xe máy ngược chiều, B1 đã dùng ống điếu mang theo từ trước đập trúng tay trái của T làm điện thoại trên tay Thuân rơi xuống đất. Thuân bỏ chạy về hướng khu K, xã H, thanh H; Thấy vậy B1 sai T5 và D1 nhặt điện thoại đem về để trả lại, sau đó cả nhóm cùng đi về nhà trọ. Tại phòng trọ B1 gọi điện cho Phạm Bá L5 học sinh trọ tại khu nhà trọ của anh Phạm Bá L2 và gọi cho Lê Tiến Đ là bạn học ở khu D xã H thông về việc mới xảy ra giữa nhóm B1 và nhóm khu K, nên L5 gọi B1 đến ở cùng với L5. Tại
nhà trọ lúc này có Lê Tiến Đ, Lương Mạnh C3, Phạm Bá H3, Lê Tuấn K, Phạm Quang H5, Phạm Bá L5, Lương Gia B1, Hà Chí T5 (Nhóm học sinh) rủ nhau ra đứng trước cửa nhà trọ cạnh đường Q.
Còn T và Q sau khi bị đánh thì chạy về nhà Phạm Bá H2 cùng ở khu K, xã H. Tại đây T8 nói với H2 về việc bị B1 đánh và rơi điện thoại, lúc này Phạm Mạnh T6 là hàng xóm của H2 cũng tự đi đến và Q gọi điện thoại cho Phạm Tuấn H ở cùng khu Khằm đến để giải quyết việc mới xảy ra với T, sau đó Q về nhà lấy một con dao 5 và quay lại nhà H2. Tại nhà H2 lúc này có: H2, Q, T, H, Phạm Mạnh T6 (Nhóm khu K1), cả nhóm thống nhất cùng nhau xuống tìm Lương Gia B1 để lấy lại điện thoại và giải quyết mâu thuẫn. Khi đi T cầm 01 gậy lò xo bằng kim loại, H2 cầm 01 đoạn cây luồng, Q cầm theo 01 con dao, H 01 tua vít để trong cốp xe máy.
Khoảng 01 giờ sáng ngày 29/8/2025 (Nhóm khu Khằm) cùng nhau đi xe máy đến khu D, xã H, tỉnh Thanh Hóa đề tìm nhóm của B1. Khi đi T cầm 01 gậy lò xo bằng kim loại, H2 cầm 01 đoạn gậy cây luồng, Quang C5 theo 01 con dao, H mang theo 01 tua vít để trong cốp xe máy. Khi nhóm khu K đi đến khu vực chợ Cóc thuộc khu D, xã H thì thấy nhóm của B1 (Nhóm học sinh) đang đứng ở cổng nhà trọ nhà anh Phạm Bá L2 (Đối diện cổng Trường Trung học cơ sở P). Nhóm Khu Khằm đi qua khu nhà trọ anh L2 1 đoạn, sau đó vòng quay lại dừng chỗ nhóm của B1 đang đứng và H lên tiếng "ai là người đánh và lấy điện thoại thằng T thì ra đây", nhưng nhóm của B1 không có ai lên tiếng nhận việc đánh Thuân, sau đó giữa 2 nhóm xảy ra cãi nhau, trong lúc này T5 đưa điện thoại cho K và trả lại cho T, từ lúc này giữa 2 nhóm tiếp tục xảy ra cãi vã, chửi bới nhau. Khi nghe thấy tiếng cãi nhau thì Lương Mạnh C3, Bùi Văn L4, Phạm Quang H5 và nhiều học sinh trọ ở nhà trọ nhà anh L2 chạy ra đầu cổng nhà trọ. Khi đi ra thì C3 lấy 01 gậy luồng tại khu nhà trọ nhà anh L2, hai nhóm cãi nhau được khoảng 15-20 phút thì được anh Phạm Bá L2 can ngăn, nhưng ngay lúc này Đ dùng tay đấm vào ngực của T thì H cầm mũ bảo hiểm đập vào đầu Đ 01 cái làm Đ lùi ra phía sau. Thấy vậy, C3, H5, H3 lao vào dùng tay, chân đấm, đá vào người của H. Lúc này B1, K cũng lao vào đánh nhau với nhóm khu Khằm. H2 dùng gậy tre đập vào tay và vai B1, B1 liền cầm điếu cày đập vào người H2 và T, lúc này T cầm gậy lò xo đánh lại trúng vào tay của B1. T5 lao vao can ngăn B1 ra thì bị H2 cầm 01 gậy tre đập vào tay nên T5 lùi lại cổng nhà trọ đứng xem. Do bị đánh nên H đã lấy tua vít mang theo trước đó khua về phía nhóm của B1. K cầm 01 thanh nhôm định lao vào phía T6 thì T6 giật con dao trên tay Q khua về phía của K, không cho K tiến lại gần. Khi thấy C3 đứng một mình thì cầm dao cùng nhóm thanh niên khu K1 đuổi theo để đánh C3, C3 cầm theo đoạn gậy luồng chạy về phía chợ Cóc. Do không đuổi được C3 nên nhóm thanh niên khu K1 lấy xe máy để đi về. Lúc này, H3 nhặt 01 mảnh kính vỡ bên đường, chạy bộ đuổi theo và cầm ném về phía nhóm thanh niên khu K1, mảnh kính trúng vào phần đầu bên trái của H2 làm H2 bị thương, sau đó 2 nhóm tự giải tán đi về. Riêng Phạm Bá H2 khi về đến nhà thây vết thương chảy nhiều máu, nên đã đến Bệnh viện Đ2 băng bó vết thương sau đó trở về nhà.
Hậu quả: Lê Tiến Đ: bị thương rách da kích thước 4 x 5cm tại vùng đầu bên trái. Phạm Bá H2: bị 01 vết thương hở của má và vùng thái dương. Hà Văn T:
bị 01 vết bầm tím tại cánh tay trái (Từ chối giám định do không có thương tích đề lại). Phạm Tuấn H: bị 02 vết xước nhẹ ở mù bàn tay trái và khuỷu tay trái; (Từ chối giám định do không có thương tích để lại). Lương Gia B1: bị sưng nề nhẹ ở mu bàn tay phải và vai trái; (Từ chối giám định do không có thương tích để lại). Lê Tuấn K: bị sưng nề nhẹ ở phần vai bên phải và phần má trái. (Từ chối giám định do không có thương tích để lại). Phạm Bá H3: 01 vết sưng nề nhẹ ở vùng má phải. (Từ chối giám định do không có thương tích để lại)
Kết quả giám định thương tích:
- Thương tích của Lê Tiến Đ, theo kết quả giám định số 8042/KL-KLHS ngày 28/10/2024 của V Bộ C6 kết luận tại thời điểm giám định Lê Tiến Đ bị tổn thương cơ thể là 01 %.
- Thương tích của Phạm Bá H2 theo kết quả giám định số 8039/KL-KLHS ngày 28/10/2024 của V Bộ C6 kết luận tại thời điểm giám định Lê Tiến Đ bị tổn thương cơ thể là 09%.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Phạm Tuấn H, Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3 Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 mảnh kính làm bằng thủy tinh kích thước 16 x 10,5 cm; 01 mũ bảo hiểm màu trắng loại trùm đầu hiệu KYT, chu vi đầu 56cm, kính chắn gió trước màu đen; 01 (một) tua vít dài 19cm, đầu nhọn làm bằng kim loại dài 17cm, cán làm bằng nhựa dài 11 cm; 01 (một) gậy lò xo bằng kim loại màu đen, dài 50cm, đường kính 3cm, hai đầu có tay nắm bằng nhựa; 01 (một) con dao làm bằng kim loại dài 40cm, phần rộng nhất 7cm, có cán làm bằng gỗ; 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, màu trăng, kích thước 38cm, đường kính 2cm, ruột rổng; 01 hòn đá kích thước dài 10 x 6 x 3cm; 01 Điếu cày bằng cây tre, ống điếu được bọc bằng kim loại màu vàng đồng, điếu có kệ hai chân điếu, kích thước dài 66 cm, đường kính 4 cm.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với hành vi cố ý gây thương tích, Sau khi vụ án xảy ra, gia đình Phạm Bá H3 đã thỏa thuận, bồi thường cho Phạm Bá H2 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV13 ngày 27/10/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 về tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
- Hà Văn T, Vi Văn Q mỗi bị cáo từ 30 đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K mỗi bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90 và Điều 91 của Bộ luật Hình sự; Điều 124 của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2025. Xử phạt:
- Phạm Bá H3 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Lương Mạnh C3 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36, Điều 90, Điều 91 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự; Điều 118 của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2025. Xử phạt:
- Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 mỗi bị cáo từ 06 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ - 01 mảnh kính làm bằng thủy tinh kích thước 16 x 10,5 cm; 01 mũ bảo hiểm màu trắng loại trùm đầu hiệu KYT, chu vi đầu 56cm, kính chắn gió trước màu đen; 01 (một) tua vít dài 19cm, đầu nhọn làm bằng kim loại dài 17cm, cán làm bằng nhựa dài 11 cm; 01 (một) gậy lò xo bằng kim loại màu đen dài 50cm, đường kính 3cm, hai đầu có tay nắm bằng nhựa; 01 (một) con dao làm bằng kim loại dài 40cm, phần rộng nhất 7cm, có cán làm bằng gỗ; 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, màu trắng, kích thước 38cm, đường kính 2cm, ruột rỗng; 01 hòn đá kích thước dài 10 x 6 x 3cm; 01 Điếu cày bằng cây tre, ống điếu được bọc bằng kim loại màu vàng đồng, điếu có kệ hai chân điếu, kích thước dài 66 cm, đường kính 4 cm.
Về án phí: Các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lê Tuấn K thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho các bị cáo Lê Tiến Đ, Lê Tuấn K và Phạm Bá H3: trình bày: Đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Các bị cáo Đ và H3 đều là người chưa thành niên, bị cáo K có ông nội là người có công với đất nước, các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế. Các bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất trong khung đề nghị của Viện kiểm sát. Bị cáo Lê Tuấn K thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào đêm 28/8/2024 rạng sáng ngày 29/8/2024 tại khu 4 xã H, tỉnh Thanh Hóa, các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 đã có hành vi tụ tập đông người, cãi vã, chửi bới, gây gổ sử dụng hung khí nguy hiểm đánh nhau ( Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3 ), làm huyên náo cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Gây rối trật tự công cộng", quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 tham gia vào việc đánh nhau nhưng không sử dụng hung khí nguy hiểm đủ yếu tố cấu thành tội “ Gây rối trật tự công cộng", quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn có tính chất nghiêm trọng. Thuân và Q là người tham gia từ đầu. Các bị cáo H, H2, K, H3, Cường Đ1, H5 là những người thực hành tích cực, trong đó H3 là người dùng mảnh kính ném gây thương tích cho H2 9%, Đ1 là người đánh đầu tiên. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy, cần xét xử các bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 đều là người dân tộc thiểu số ít người, nhận thức pháp luật còn hạn chế, có xác nhận của trưởng thôn và chính quyền địa phương về việc ngoài lần phạm tội này ra luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật tại địa phương, gia đình có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo Lê Tuấn K có ông nội là người có công với đất nước là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thực tế, thời điểm xảy ra hành vi phạm tội, các bị cáo Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại chương XII Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2025, nên hình phạt được áp dụng không quá ba phần năm mức hình phạt mà bị cáo phải chịu.
Xét thấy, các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3 tuổi đời còn trẻ, nhận thức còn hạn chế, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại điều 65 BLHS và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Các bị cáo Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội cho các bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ tại địa phương là phù hợp pháp luật. Các bị cáo khi phạm tội đều chưa thành niên (dưới 18 tuổi), chưa có thu nhập gì. Nghĩ nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đối với hành vi cố ý gây thương tích, Sau khi vụ án xảy ra, gia đình Phạm Bá H3 đã thỏa thuận, bồi thường cho Phạm Bá H2 số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Những người bị thiệt hại sức khỏe không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
[5] Về hành vi xâm phạm đến sức khỏe: Bị cáo H dùng mũ bảo hiểm gây thương tích cho Lê Tiến Đ tỷ lệ thương tích là 01 %; Phạm Bá H3 sử dụng mảnh kính vỡ ném gây thương tích cho Phạm Bá H2 tỷ lệ thương tích là 09%, nhưng Phạm Bá H2 và Lê Tiến Đ đã có đơn đề nghị không xử lý hình sự, cơ quan điều tra căn cứ Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự, không khởi tố là đúng quy định của pháp luật.
[6] Trong vụ án này Lương Gia B1 là người rủ rê, lôi kéo, là người tham gia tích cực nhất và có sự tham gia Phạm Mạnh T6, quá trình xác minh, điều tra xác định thời điểm xảy ra vụ án các đối tượng đều dưới 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự;
Đối với Hà Chí T5, Hà Tất T4 và Hà Văn D1 cùng Lương Gia B1 tham gia vào việc truy đuổi Hà Văn T8 và Vi Văn Q ở giai đoạn đầu nhưng sau đó không tham gia vào việc gây gổ, đánh nhau giữa 2 nhóm. Xét hành vi của T5, T4 chưa đến mức khởi tố, điều tra xử lý về tội Gây rối trật tự công cộng, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với - 01 mảnh kính làm bằng thủy tinh kích thước 16 x 10,5 cm; 01 mũ bảo hiểm màu trắng loại trùm đầu hiệu KYT, chu vi đầu 56cm, kính chắn gió trước màu đen; 01 (một) tua vít dài 19cm, đầu nhọn làm bằng kim loại dài 17cm, cán làm bằng nhựa dài 11 cm; 01 (một) gậy lò xo bằng kim loại màu đen dài 50cm, đường kính 3cm, hai đầu có tay nắm bằng nhựa; 01 (một) con dao làm bằng kim loại dài 40cm, phần rộng nhất 7cm, có cán làm bằng gỗ; 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, màu trắng, kích thước 38cm, đường kính 2cm, ruột rỗng; 01 hòn đá kích thước dài 10 x 6 x 3cm; 01 Điếu cày bằng cây tre, ống điếu được bọc bằng kim loại màu vàng đồng, điếu có kệ hai chân điếu, kích thước dài 66 cm, đường kính 4 cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
[8] Về án phí: Các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lê Tuấn K thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 phạm tội "Gây rối trật tự công cộng".
* Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
- Hà Văn T, Vi Văn Q mỗi bị cáo 02 ( hai ) năm 06 ( sáu ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 ( năm ) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K mỗi bị cáo 02 ( hai ) năm 03 ( ba ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 ( bốn ) năm 06 ( sáu ) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 90 và Điều 91 của Bộ luật Hình sự; Điều 124 của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2025. Xử phạt:
- Phạm Bá H3 01 ( một ) năm 03 ( ba ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 ( hai ) năm 06 ( sáu ) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Lương Mạnh C3 01 ( một ) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 ( hai ) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Lê Tuấn K cho UBND xã H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phạm Bá H3 cho UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lương Mạnh C3 cho UBND xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Áp dụng: Khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36, Điều 90 Điều 91 và Điều 100 của Bộ luật Hình sự; Điều 118 của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2025. Xử phạt:
- Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 mỗi bị cáo 06 ( sáu ) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, đơn vị được giao giám sát, giáo dục nhận được quyết định thi hành án và bản án.
Giao bị cáo Lê Tiến Đ cho UBND xã H, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Phạm Quang H5 cho U, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: - 01 mảnh kính làm bằng thủy tinh kích thước 16 x 10,5 cm; 01 mũ bảo hiểm màu trắng loại trùm đầu hiệu KYT, chu vi đầu 56cm, kính chắn gió trước màu đen; 01 (một) tua vít dài 19cm, đầu nhọn làm bằng kim loại dài 17cm, cán làm bằng nhựa dài 11 cm; 01 (một) gậy lò xo bằng kim loại màu đen dài 50cm, đường kính 3cm, hai đầu có tay nắm bằng nhựa; 01 (một) con dao làm bằng kim loại dài 40cm, phần rộng nhất 7cm, có cán làm bằng gỗ; 01 (một) thanh kim loại hình trụ tròn, màu trắng, kích thước 38cm, đường kính 2cm, ruột rỗng; 01 hòn đá kích thước dài 10 x 6 x 3cm; 01 Điếu cày bằng cây tre, ống điếu được bọc bằng kim loại màu vàng đồng, điếu có kệ hai chân điếu, kích thước dài 66 cm, đường kính 4 cm.
( Các vật chứng trên có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng số 11/2025/TV – PTHADSKV 13 ngày 29/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13, tỉnh Thanh Hoá).
* Án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Buộc các bị cáo Hà Văn T, Vi Văn Q, Phạm Tuấn H, Phạm Bá H2, Phạm Bá H3, Lương Mạnh C3, Lê Tiến Đ và Phạm Quang H5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Tuấn K.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo. Các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Phạm Văn Hùng |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
