|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày: 27/02/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Gái
Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Huệ và bà Phạm Thị Minh Huyền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXX-HS ngày 13/02/2025 đối với các bị cáo họ và tên:
1. Vi Công M; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 14/02/1993, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ G, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa; lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vi Mạnh H và bà Nguyễn Thị X; vợ con: Chưa có; Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 01/10/2024 hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
2. Phạm Như H1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29/7/1995, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa; lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Phạm Văn H2 và bà Ngô Thị T; vợ: Nguyễn Thị P, có 01 con sinh năm 2020; Tiền án tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/10/2024 hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C; có mặt.
- * Người làm chứng: anh Nguyễn Minh T1; vắng mặt.
- * Người chứng kiến: Ông Tô Văn L, ông Phan Bùi Đ; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như như sau: Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 01/10/2024 tại khu vực tổ F, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố C bắt quả tang Phạm Như H1 đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Minh T1. Vật chứng thu giữ: Thu trên tay T1 02 túi nilon kích thước (4x6) cm, bên trong chứa 1,919 gam thực vật khô, 01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone; Thu của H1 trong túi quần 100.000 đồng và 01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung.
Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở, trên người Vi Công M, thu giữ: trong túi áo treo trên móc trong phòng ngủ 01 túi nilon kích thước khoảng (5x8,8) cm, bên trong chứa 4,057 gam thực vật khô, 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redme.
Bản Kết luận giám định số 7582/KL-KTHS ngày 07/10/2024 và số 7583 ngày 11/10/2024 của V Bộ C kết luận: Tìm thấy các chất ma túy ADB-BUTINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA trong mẫu thực vật khô thu giữ của Nguyễn Minh T1 gửi giám định. Khối lượng mẫu 1,919gam. Không xác định được khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong mẫu gửi giám định do hàm lượng ADB-BUTINACA trong mẫu nhỏ hơn giới hạn định lượng của phương pháp.
Tìm thấy các chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA trong mẫu thực vật khô thu giữ của V1 gửi giám định. Khối lượng mẫu 4,057gam. Không xác định được khối lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA trong các mẫu thực vật khô thu giữ của Nguyễn Minh T1 và Vi Công M do V không có mẫu chuẩn định lượng. Sau giám định hoàn lại gồm: Mẫu thu của Nguyễn Minh T1: 1,400 gam thực vật khô; Mẫu thu của Vi Công M: 3,500gam thực vật khô và vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 7582/KL-KTHS.
Không tìm thấy chất ma túy và các sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu nước tiểu của Phạm Như H1, Nguyễn Minh T1 và Vi Công M.
Tại phiên tòa cũng như qua trình điều tra các bị cáo Phạm Như H1, Vi Công M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Bị cáo Phạm Như H1 khai thêm: Sau khi mua được 02 túi ma túy của Vi Công M, bị cáo H1 ra phòng khách nhà M sử dụng một phần ma túy trong hai túi ma túy mua được, lúc đó M đi vào phòng ngủ nên không biết việc H1 sử dụng ma túy, H1 bán 02 gói ma túy cho T1 với giá 200.000 đồng, H1 đã nhận của T1 100.000 đồng cất vào túi, còn lại T1 đang chuyển khoản trả 100.000 đồng thì bị Công an bắt giữ.
Bị cáo Vi Công Công M khai thêm: Trước ngày 01/10/2024 khoảng 10 ngày, bị cáo M gọi mua 01 gam ma túy Tobaco với giá 1.000.000 đồng trên mạng xã hội, mục đích để bán và sử dụng, giao dịch mua ma túy xong bị cáo M đã xóa hết thông tin, khi bị cáo M nhận ma túy có 05 túi nilon gồm 4 túi nilon kích thước (4x6) cm và 01 túi nilon kích thước (5x8,8) cm. Bị cáo M đã sử dụng hết 02 túi ma túy và bán cho H1 02 túi ma túy T2, còn lại 01 túi ma túy kích thước (5x8,8)cm bị cáo M cất giấu ở nhà, mục đích để bán và sử dụng thì bị Công an phát hiện thu giữ.
Người làm chứng anh Nguyễn Minh T1 khai nhận : hồi 14 giờ ngày 01/10/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên nhắn tin hỏi H1 mua 02 túi ma túy, H1 đồng ý hẹn đến khu vực sân bóng phường C để giao dịch, tại đây H1 đưa tôi 02 túi ma túy Tobaco, tôi đưa H1 100.000 đồng và cầm điện thoại chuyển khoản trả nốt 100.000 đồng cho H1 thì bị Công an phát hiện.
Người chứng kiến ông Tô Văn L, ông Phan Bùi Đ đều trình bày: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 01/10/2024 tại khu vực sân bóng phường C thành phố C được chứng kiến Công an bắt giữ hai thanh niên khai tên Phạm Như H1 và Nguyễn Minh T1, quá trình bắt giữ Công an thu trên tay T1 02 túi nilon trong các túi đều chứa thực vật khô, T1 khai là ma túy Tobaco mua của H1, thu của T1 01 điện thoại Iphone màu trắng, thu trong túi quần H1 đang mặc 1 tờ tiền 100.000 đồng. H1 khai là tiền bán ma túy T2 cho T1, thu của H1 01 điện thoại Samsung vỏ màu đen.
Bản Cáo trạng số: 599/CT-VKSCP ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Phạm Như H1, Vi Công M đều về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Vi Công M. Xử phạt: Vi Công M từ 25 đến 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/10/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Phạm Như H1. Xử phạt Phạm Như H1 từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/10/2024.
Đề nghị áp dụng: Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung thu giữ của bị cáo H1; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redme thu của Vi Công M do có liên quan đến việc phạm pháp; số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H1 do phạm pháp mà có.
Đối với 01 sim điện thoại thu của bị cáo H1 và 01 sim điện thoại thu của bị cáo M không còn giá trị sử dụng; mẫu vật còn lại sau giám định và các vỏ bao gói được hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 7582/KL-KTHS của V Bộ C là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên đều tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo Vi Công M phải nộp lại 400.000 đồng do phạm pháp mà có nộp ngân sách Nhà nước.
Tại phiên tòa các bị cáo Vi Công M, Phạm Như H1 đều khai nhận tội, các bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vi Công M, Phạm Như H1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang lập ngày 01/10/2024 đối với bị cáo Phạm Như H1, lời khai người làm chứng anh Nguyễn Minh T1, lời khai người chứng kiến ông Tô Văn L, ông Phan Như Đ1, kết luận giám định số 7582 ngày 07/10/2024, kết luận số 7583 ngày 04/10/2024 đều của V Bộ C, biên bản làm việc bị cáo Phạm Như H1 và Vi Công M nhận nhận dạng người qua ảnh, Biên bản khám xét nơi ở của Vi Công M, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác có lưu trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 01/10/2024 tại nhà Vi Công M ở tổ G, khu B, phường C, thành phố C bị cáo Vi Công M có hành vi bán trái phép 02 túi nilon thực vật khô chứa ma túy ADB-BUTINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA cho Phạm Như H1 với giá 400.000 đồng và có hành vi tàng trữ 4,057 gam (bốn phẩy không năm bảy gam) thực vật khô chứa ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA mục đích để bán và sử dụng.
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 01/10/2024 tại khu vực tổ F, khu C, phường C, thành phố C bị cáo Phạm Như H1 có hành vi bán trái phép 1,919 gam (một phẩy chín một chín gam) thực vật khô chứa ma túy ADB-BUTINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA cho Nguyễn Minh T1 với giá 200.000 đồng thì bị Công an phát hiện; có đủ cơ sở quy kết các bị cáo Vi Công M, Phạm Như H1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Việc truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số 599/CT-VKSCP ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.
Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo trong vụ án đều biết được tác hại của ma túy song do do tham lam và để tiếp tục có ma túy sử dụng bị cáo Vi Công M đã mua ma túy của người không rõ lai lịch để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo H1 sau khi mua được ma túy từ bị cáo M, bị cáo H1 đã sử dụng một phần ma túy, số ma túy còn lại H1 đem bán cho anh Nguyễn Minh T1, các bị cáo phạm tội hoàn toàn độc lập, bị cáo M mua được ma túy đem bán cho H1, khi khám xét nơi ở của bị cáo M còn thu giữ 4,057 gam (bốn phẩy không năm bảy gam) thực vật khô chứa ma túy nên hình phạt đối với bị cáo M cao hơn so với bị cáo H1 là thỏa đáng. Hành vi các bị cáo phạm phải cần xử lý nghiêm.
Song cần xét: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đều khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra hối cải, nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo M địa phương xác nhận hiện gia đình đang thờ cúng bác ruột là Liệt sỹ, nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Hình phạt bổ sung: các bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng: 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung thu giữ của bị cáo H1, 01 Điện thoại nhãn hiệu Redme thu của Vi Công M do có liên quan đến việc phạm pháp; số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo H1 do phạm pháp mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 sim điện thoại thu của bị cáo H1, 01 sim Điện thoại thu của bị cáo M không còn giá trị sử dụng; Sau giám định hoàn lại mẫu thu của Nguyễn Minh T1: 1,400 gam thực vật khô; Mẫu thu của Vi Công M: 3,500gam thực vật khô và vỏ bao gói mẫu trong niêm phong số 7582/KL-KTHS là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên đều tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Bị cáo Vi Công M phải nộp lại 400.000 đồng do phạm pháp mà có nộp ngân sách Nhà nước.
[5] Bị cáo M khai nhận số ma túy T2 bị thu giữ và số ma túy đem bán cho Phạm Như H1 là mua của người không rõ lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone cho anh Nguyễn Minh T1 nên không đề cập.
Phạm Như H1 khai nhận sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Vi Công M nhưng M không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với M.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vi Công M.
Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Như H1.
Tuyên bố: Các bị cáo Vi Công M, Phạm Như H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Vi Công Minh 27 (hai mươi bảy) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/10/2024.
Xử phạt: Phạm Như H1 24 (hai mươi bốn) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/10/2024.
Căn cứ: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy gồm 1,400 gam thực vật khô mẫu thu của Nguyễn Minh T1, 3,500gam thực vật khô mẫu thu của Vi Công M và vỏ bao gói mẫu trong phong bì niêm phong số 7582/KL-KTHS của V Bộ C; 01 Chiếc sim trên sim có 02 dãy số thu của Phạm Như H1, 01 Chiếc sim trên sim có 4 dãy số thu của Vi Công M.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) thu giữ của Phạm Như H1 theo Biên bản giao nhận tài sản số 86/2024/BBGN-CQCSĐTCATPCP ngày 13/12/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố C (tiền vật chứng thu giữ); 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Phạm Như H1 và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redme thu giữ của Vi Công M, các điện thoại đều màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng.
Bị cáo Vi Công M phải nộp 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) tiền do phạm pháp mà có nộp ngân sách Nhà nước.
Vật chứng được thi hành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 51/BB-THA ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Phạm Như H1, Vi Công M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Gái |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Vi Công M, Phạm Như H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
