Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.
  • Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Vương;
  • Ông Phạm Ngọc Vinh;
  • Ông Nguyễn Sang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Cư - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quốc C; giới tính: nam; sinh ngày 01/12/1985, tại huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKNKTT: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: thợ làm kính mắt; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em; bị cáo có vợ là Hồ Thị Mỹ O; bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ vào ngày 12/9/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.

  2. Nguyễn Tấn A; giới tính: nam; tên gọi khác: Nhỏ Lý; sinh ngày 01/01/1982, tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: Tổ E, khối X, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: Khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông (không rõ cha) và bà Hồ Thị L; bị cáo là con út trong gia đình có 06 anh em; bị cáo có vợ là Trần Thụy T; bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền sự: không;

    Tiền án: Ngày 30/10/2020, bị TAND thành phố Hội An xử phạt 40.000.000 đồng về tội "Đánh bạc" tại Bản án hình sự số 45/2020 (Bản án này đã áp dụng tái phạm đối với bị cáo), bị cáo đã nộp số tiền 24.800.000 đồng, còn lại số tiền 15.200.000 đồng đến khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 11/9/2024 bị cáo chưa chấp hành.

    Nhân thân:

    • Ngày 01/02/2002, bị UBND tỉnh Q ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 12 tháng về hành vi "Tụ tập băng nhóm, gây rối đánh nhau", đã chấp hành xong vào ngày 03/02/2003;
    • Ngày 21/7/2003, bị Công an phường M, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 200.000 đồng về hành vi "Đánh nhau", đã chấp hành xong quyết định xử phạt;
    • Ngày 14/12/2010, bị TAND thành phố Hội An xử phạt 36 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án hình sự số 35/2010, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 21/01/2013;
    • Ngày 30/8/2016, bị Công an phường M, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi "Đánh nhau" tại Quyết định số 70/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong quyết định xử phạt;
    • Ngày 28/11/2017, bị TAND thành phố Hội An xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án hình sự số 43/2017; bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm tuyên phạt 06 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt và án phí.

    Bị cáo bị bắt tạm giam vào ngày 28/8/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.

  3. Trần Thụy T; giới tính: nữ; tên gọi khác: Bé Đen; sinh ngày 18/11/1985, tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: A T, khối X, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 06/12; con ông Trần Văn M1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; bị cáo là thứ hai trong gia đình có 03 chị em; bị cáo có chồng là Nguyễn Tấn A; bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;

    Nhân thân:

    • Ngày 14/12/2010, bị TAND thành phố Hội An xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" tại Bản án hình sự số 35/2010, đã chấp hành hình phạt tù và án phí;
    • Ngày 30/8/2016, bị Công an phường C, thành phố H xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi "Đánh nhau hoặc gây xúi giục người khác đánh nhau" tại Quyết định số 71/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong quyết định xử phạt;
    • Ngày 26/12/2016, bị Công an phường T, thành phố H xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc" tại Quyết định số 26/QĐ-XPHC, đã chấp hành xong quyết định xử phạt.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  4. Đỗ Thanh T1; giới tính: nam; tên gọi khác: Xíu; sinh ngày 07/10/1979, tại thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: thợ sửa xe; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Đỗ N (đã chết) và bà Trần Thị T2; bị cáo là thứ sáu trong gia đình có 07 anh chị em; bị cáo có vợ đã ly hôn, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Tất cả các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc C theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Bùi Bá D - Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Số D, Nguyễn Thái H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Ngọc T3; sinh năm 1986; địa chỉ: C N, phường M, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Hồ Thị Mỹ O; sinh năm 1988; nơi đăng ký HKTT: 34/15 N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  • Trang Thị Minh T4; sinh năm 1990; nơi đăng ký HKTT: Tổ H, khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  • Phan Văn H1; sinh năm 1983; nơi đăng ký HKTT: Tổ H, khối T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • Ông Phạm Văn A1, sinh năm 1968, trú tại: Số D N, phường M, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  • Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1975, trú tại: Số C N, phường M, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 ngày 11/9/2023, Nguyễn Quốc C cùng vợ chồng Nguyễn Tấn A (tên thường gọi là Nhỏ L1), Trần Thụy T (tên thường gọi là Bé Đ) và Đỗ Thanh T1 (tên thường gọi là X) ngồi nhậu tại nhà trọ của vợ chồng A - T tại Tổ C, thôn B, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày thì có vợ chồng Phan Văn H1 (tên thường gọi là B, sinh năm 1983), Trang Thị Minh T4 (tên thường gọi là N1; sinh năm 1990) đến phòng trọ của A - T để chơi nhưng chỉ có H1 ngồi nhậu cùng, T4 ở đó một lúc thì ra về. Tại đây, C có nói đến chuyện về việc vợ của C là chị Hồ Thị Mỹ O có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Ngọc T3 cho mọi người trong bàn nhậu nghe, trong đó có vợ chồng Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T. Do trước đó vợ chồng A - T cũng có mâu thuẩn với anh T3 vì cho rằng vài ngày trước anh T3 cầm dao đi tìm Nguyễn Tấn A nên lúc này Nguyễn Tấn A gọi điện thoại cho chị O để xin số điện thoại của anh T3, lúc đang nói chuyện thì Trần Thụy T lấy điện thoại từ Tấn A yêu cầu chị O thông báo với anh T3 qua gặp vợ chồng Tấn A, tuy nhiên khi chị O gửi số điện thoại thì Tấn A không gọi được. Sau đó, Tấn A rủ cả nhóm đến nhà anh T3 để nói chuyện, tuy nhiên cả nhóm tiếp tục nhậu xong rồi mới đi.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, C sử dụng xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, BKS 92G1 - 210.28 chở Phan Văn H1, vợ chồng A - T đi xe mô tô hiệu Wave màu trắng BKS 92C1 - 126.10. Khi vợ chồng A - T đến gần Quảng trường H thì gặp Đỗ Thanh T1 và cùng đi. Tất cả điều khiển xe đi qua khu vực A, phường M đến ngã tư đường N - L thì gặp Trang Thị Minh T4 đi làm spa dạo cũng ở đó. Cả nhóm để xe ở ngoài (vì P1 đi bộ không cho xe máy vào), C mở cốp xe lấy một con dao bằng kim loại dài 35,7 cm, cán dao bằng kim loại (dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 24,7cm, chỗ rộng nhất 7,5 cm, một cạnh sắc, mũi vuông) giấu vào lưng quần trước bụng rồi kéo áo che lại (việc C chuẩn bị con dao này và giấu dao trong người thì mọi người không biết). Nguyễn Tấn A đi bộ trước, tiếp đến là T, C, H1, T4 đi bộ theo sau từ đường N qua nơi làm việc của anh T3 ở quán M, đường N để tìm anh T3 nhưng không gặp.

Sau đó, tất cả quay lại lấy xe, Tấn A chở T chạy trước, C chở H1, T4 và T1 mỗi người đi một xe chạy đến ngã ba gần nhà anh T3 thì H1 và T4 không đi vào còn Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 đi đến trước nhà anh T3. Lúc này, Nguyễn Tấn A nói Trần Thụy T gọi anh T3 ra để nói chuyện. Trần Thụy T một mình đi đến trước cổng số nhà C N, phường M gọi anh T3. Khi anh T3 đi ra thì T hỏi anh Thống lý D1 vì sao anh T3 cầm dao đi tìm Nguyễn Tấn A nhưng anh T3 không thừa nhận. Ngay sau đó, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 đi bộ đến đứng trước mặt anh T3. Khi gặp anh T3, C nói: "ĐM, bạn bè mà mi chơi nhớp, vợ tau có hai con nhỏ mà mi rủ đi đến hai ba giờ sáng", T3 đáp lại: "ĐM, mi biết chi", nghe vậy C dùng tay phải đấm một cái trúng vào vùng mặt anh T3 thì anh T3 bỏ chạy vào nhà cầm ra 02 (hai) con dao trên tay rồi chạy ra. Thấy vậy, C nhặt lấy 02 viên gạch ống (loại gạch đất nung 06 lỗ) ở trên lề đường cầm trên tay, Tấn A nhặt gần đó 01 đoạn cây (dạng cây nhôm hình chữ U dùng đóng la phông, màu vàng, dài 1,43 mét) và T1 nhặt lấy 01 đoạn cây (dạng cán cây lau nhà, màu trắng sáng, dài 92cm) cầm trên tay. Anh T3 cầm 02 con dao đúng trước cổng nhà, C và anh T3 tiếp tục nói qua lại, C bỏ 02 (hai) viên gạch cầm trên tay xuống đất rồi bất ngờ lấy con dao giấu trong người ra, cầm dao trên tay phải xông đến chém anh T3 nhiều nhát liên tục theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, anh T3 đưa tay phải lên đỡ nên trúng nhiều nhát vào đầu, vai, tay phải của anh T3. Lúc này, anh T3 lùi về sau để tránh và bỏ chạy qua bên kia đường, còn C và mọi người đi về nhà. Anh Nguyễn Ngọc T3 được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, thành phố H đến ngày 18/9/2023 thì xuất viện.

Sáng ngày 12/9/2023, Nguyễn Quốc C đến Công an phường M đầu thú, giao nộp con dao gây án cùng với xe mô tô hiệu Airblade màu đen, BKS 92G1 - 210.28 và khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc.

Về vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã thu giữ:

  • 01 con dao bằng kim loại dài 35,7 cm, cán dao bằng kim loại dài 11 cm, đường kính 03 cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 24,7 cm, chỗ rộng nhất 7,5 cm, một cạnh sắc, mũi vuông;
  • 01 con dao dài 33,5 cm, cán dao bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, nơi rộng nhất 05 cm, có một cạnh sắc, mũi dao sắc nhọn;
  • 01 con dao dài 45,8 cm, cán dao bằng gỗ dài 13,8cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32 cm, nơi rộng nhất C6 cm, có một cạnh sắc;
  • 04 viên gạch 06 lỗ;
  • 01 thanh kim loại dạng chữ "U" dài 143,5 cm, chiều ngang 3,5 cm, cao 1,3 cm;
  • 01 thanh kim loại hình trụ tròn, dài 92 cm, đường kính 02 cm, đã bị biến dạng (gãy gập, cong vênh);
  • 01 điện thoại di động hiệu Nokia model 1280, sim 0705246410 thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn A;
  • 01 xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển kiểm soát 92G1-210.28 của bị cáo Nguyễn Quốc C.

Về dữ liệu hệ thống camera:

  • Thu giữ 03 đoạn video được lưu trên 01 đĩa DVD, trích xuất từ 02 camera tại số nhà F N, phường M;
  • Thu giữ 01 đoạn video được lưu trên 01 đĩa DVD, trích xuất từ camera của khách sạn S, D N, phường M;
  • Thu giữ 01 đoạn video được quay bằng điện thoại IPhone X, lưu trên 01 đĩa DVD;

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất dữ liệu, in thành các bản ảnh để cho bị cáo Nguyễn Quốc C xác nhận về người xuất hiện trong các video.

Về hậu quả của vụ án:

  • Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 745 ngày 19/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận thương tích đối với anh Nguyễn Ngọc T3 là 23% và đề nghị giám định bổ sung để đánh giá tổn thương thần kinh, chức năng vận động của khớp vai - khớp khuỷu và cổ bàn tay phải.
  • Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 834 ngày 27/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q mô tả và kết luận thương tích đối với anh Nguyễn Ngọc T3 tại thời điểm giám định là 39% (ba mươi chín phần trăm).
  • Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 744 ngày 18/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q kết luận thương tích đối với bị cáo Nguyễn Quốc C là 01% với thương tích 01 vết thương kích thước nhỏ ngang qua mặt trong đoạn 1/3 dưới cẳng tay phải. Quá trình điều tra, xác định thương tích trên là do lúc C dùng dao tấn công anh T3 nên tự gây ra.

UBND phường M xác định vụ án nêu trên, các đối tượng ở địa bàn nơi khác đến địa phương gây án làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn phường. Đặc thù của phường M có Phố cổ H, lượng khách du lịch lớn nên khi xảy ra vụ án đã làm ảnh hưởng đến tâm lý du khách gây dư luận không tốt cũng như không đảm bảo môi trường an toàn cho khách du lịch. UBND phường M kiến nghị có hình thức xử lý theo quy định của pháp luật đối với các hành vi gây ảnh hưởng đến môi trường an toàn cho người dân, du khách trên địa bàn phường M.

Về trách nhiệm dân sự Quá trình điều tra, anh Nguyễn Ngọc T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Quốc C bồi thường chi phí điều trị và tổn hại sức khỏe số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 40.000.000 đồng. Anh Nguyễn Ngọc T3 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKSQN-P2 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc C1 về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Nguyễn Tấn A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Giết người”; các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về trách nhiệm hình sự:

  • Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C từ 08 năm đến 09 năm tù.

  • Áp dụng điểm b, e khoản 2 Điều 318; điểu s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Trần Thụy T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

    Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

  • Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại dài 35,7 cm; 01 con dao dài 33,5 cm; 01 con dao dài 45,8 cm; 04 viên gạch 06 lỗ; 01 thanh kim loại dạng chữ "U" dài 143,5 cm và 01 thanh kim loại hình trụ tròn, dài 92 cm;
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển kiểm soát 92G1-210.28 của bị cáo Nguyễn Quốc C vì đây là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn A 01 điện thoại di động hiệu Nokia model 1280, sim số 0705246410.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và các vấn đề liên quan khác trong vụ án.

- Luật sư Bùi Bá D bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc C với luận cứ:

Luật sư thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Nguyễn Quốc C về tội “Giết người” và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Trong vụ án này, nguyên nhân dẫn đến hành vi của bị cáo là do bị cáo và bị hại có mâu thuẫn vì bị cáo nghi ngờ vợ bị cáo và bị hại có quan hệ tình cảm nên bị cáo mới có hành vi tìm bị hại để giải quyết. Khi gặp bị hại thì bị cáo chỉ dùng tay đấm bị hại, khi bị hại chạy vào nhà cầm 02 con dao chạy ra thì bị cáo C mới dùng dao tấn công bị hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể là: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên tòa.

Bị cáo Nguyễn Quốc C1 thống nhất với luận cứ của người bào chữa, không bào chữa bổ sung; các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 đều nhận tội, xin sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết quả giám định thương tích, kết quả thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/9/2024, Nguyễn Quốc C cùng vợ chồng bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1 nhậu tại phòng trọ của vợ chồng A và T. Đến khoảng 15 giờ 00 cùng ngày thì có vợ chồng Phan Văn H1 và Trang Thị Minh T4 đến phòng trọ của Anh - T để chơi nhưng chỉ có H1 ngồi nhậu cùng còn T4 ở đó một lúc thì ra về. Do nghi ngờ anh Nguyễn Ngọc T3 có quan hệ tình cảm với chị Hồ Thị Mỹ O (vợ của C) và Nguyễn Tấn A và anh T3 có mâu thuẩn trước đó nên sau khi nhậu, Nguyễn Tấn A rủ cả nhóm đến nhà anh T3 để nói chuyện.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, C sử dụng xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, BKS 92G1 - 210.28 chở Phan Văn H1, vợ chồng A - T đi xe mô tô hiệu Wave màu trắng BKS 92C1 - 126.10, khi đến gần Quảng trường H thì gặp Đỗ Thanh T1 và cùng đi. Tất cả điều khiển xe đi qua khu vực A, phường M đến ngã tư đường N - L thì gặp Trang Thị Minh T4 đi làm spa dạo cũng ở đó. Cả nhóm để xe ở ngoài để đi bộ vào vì phố đi bộ không cho xe máy vào, C mở cốp xe lấy một con dao bằng kim loại dài 35,7 cm, cán dao bằng kim loại (dài 11cm, đường kính 03cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 24,7cm, chỗ rộng nhất 7,5 cm, một cạnh sắc, mũi vuông) giấu vào lưng quần trước bụng rồi kéo áo che lại, khi C lấy dao giấu vào người thì mọi người trong nhóm không biết. Nguyễn Tấn A đi bộ trước, tiếp đến là T, C, H1, T4 đi bộ theo sau từ đường N qua nơi làm việc của anh T3 ở quán M, đường N để tìm anh T3 nhưng không gặp.

Sau đó, tất cả quay lại lấy xe, Tấn A chở T chạy trước, C chở H1, T4 và T1 mỗi người đi một xe chạy đến ngã ba gần nhà anh T3 thì H1 và T4 không đi vào, còn Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 đi đến trước nhà anh T3. Trần Thụy T một mình đi đến trước cổng số nhà C N, phường M gọi anh T3, khi anh T3 đi ra thì T hỏi anh Thống lý D1 vì sao anh T3 cầm dao đi tìm Nguyễn Tấn A nhưng anh T3 không thừa nhận. Ngay sau đó, Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 đi bộ đến đứng trước mặt anh T3. Khi gặp anh T3, C nói: "ĐM, bạn bè mà mi chơi nhớp, vợ tau có hai con nhỏ mà mi rủ đi đến hai ba giờ sáng", T3 đáp lại: "ĐM, mi biết chi", nghe vậy C dùng tay phải đấm một cái trúng vào vùng mặt anh T3 thì anh T3 bỏ chạy vào nhà cầm ra 02 (hai) con dao trên tay rồi chạy ra. Thấy vậy, C nhặt lấy 02 viên gạch ống (loại gạch đất nung 06 lỗ) ở trên lề đường cầm trên tay, Tấn A nhặt gần đó 01 đoạn cây (dạng cây nhôm hình chữ U dùng đóng la phông, màu vàng, dài 1,43 mét) và T1 nhặt lấy 01 đoạn cây (dạng cán cây lau nhà, màu trắng sáng, dài 92cm) cầm trên tay. Anh T3 cầm 02 con dao đúng trước cổng nhà, C và anh T3 tiếp tục nói qua lại, C bỏ 02 (hai) viên gạch cầm trên tay xuống đất rồi bất ngờ dùng tay phải lấy con dao giấu trong người ra, cầm dao trên tay phải xông đến chém anh T3 nhiều nhát liên tục theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái vào đầu của anh T3, anh T3 đưa tay phải lên đỡ nên trúng nhiều nhát vào đầu, vai, tay phải của anh T3. Lúc này, anh T3 lùi về sau để tránh và bỏ chạy qua bên kia đường, còn C và mọi người đi về nhà. Anh Nguyễn Ngọc T3 được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, thành phố H đến ngày 18/9/2023 thì xuất viện, kết quả giám định anh T3 bị thương tích 39%.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc C sử dụng con dao có lưỡi bằng kim loại dài 24,7cm là hung khí nguy hiểm chém mạnh, liên tục vào vùng đỉnh đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại Nguyễn Ngọc T3 hoàn toàn có khả năng dẫn đến chết người, việc anh T3 không chết là do anh T3 giơ tay đỡ nên tạo ra vết thương ở tay và gây bong mảnh xương vùng đỉnh trái sâu đến bản sọ. Do vậy, hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Nguyễn Quốc C đã phạm vào tội “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 đi cùng với Nguyễn Quốc C, quá trình đánh nhau thì các bị cáo cầm các hung khí (T5) để hỗ trợ, các bị cáo không biết việc bị cáo C mang theo con dao và dùng dao để gây án; thời điểm Anh, T1 cầm các thanh kim loại thì C đang cầm 02 cục gạch. Sự việc đánh nhau này đã gây mất an ninh trật tự tại địa bàn phường M, Ủy ban nhân dân phường M có văn bản đề nghị xử lý hành vi làm mất an ninh trật tự tại địa phương của các bị cáo. Do vậy, hành vi và hậu quả nêu trên của các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1 đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" với tình tiết định khung "Dùng hung khí" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Tấn A phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên bị áp dụng thêm tình tiết định khung "Tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm e khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 04/CT-VKSQN-P2 ngày 16/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố các bị cáo và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc C thực hiện do lỗi cố ý, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo Nguyễn Quốc C là người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, nhận thức rõ được việc dùng dao là hung khí nguy hiểm chém liên tiếp nhiều nhát và vùng đầu là vùng trọng yếu của cơ thể, hậu quả có thể dẫn đến chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1 là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật, nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng các bị cáo với thái độ xem thường pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện. Do đó, xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Quốc C đã bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng; sau khi gây án bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo C được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Nguyễn Tấn A và Trần Thụy T là vợ chồng và hiện tại hai vợ chồng bị cáo có 4 người con; bị cáo Đỗ Thanh T1, Nguyễn Tấn A không biết chữ, nhận thức hiểu biết pháp luật của bị cáo còn hạn chế, nên các bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc C thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt (hậu quả bị hại không chết mà bị thương tích 39%) nên bị cáo được áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[7] Về loại hình phạt áp dụng: Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A. Đối với bị cáo Trần Thụy T có nhân thân xấu, tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có mức độ, hiện tại đang nuôi dưỡng, chăm sóc 04 con nhỏ, chồng là bị cáo Nguyễn Tấn A đang phải chấp hành hình phạt tù trong vụ án này nên phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng 04 con là phù hợp. Đối với bị cáo Đỗ Thanh T1 có nhân thân tốt, phạm tội có mức độ, hiện tại bị cáo đang trực tiếp nuôi dưỡng mẹ đang bị bệnh phải chạy thận nhân tạo nên phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ già là phù hợp

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Ngọc T3 yêu cầu bị cáo Nguyễn Quốc C bồi thường tiền chi phí điều trị và tổn hại sức khỏe số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Quốc C và gia đình bị cáo đã bồi thường đủ số tiền này cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng gồm: 01 con dao bằng kim loại dài 35,7 cm, cán dao bằng kim loại dài 11 cm, đường kính 03 cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 24,7 cm; 01 con dao dài 33,5 cm, cán dao bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm; 01 con dao dài 45,8 cm, cán dao bằng gỗ dài 13,8cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32 cm; 04 viên gạch 06 lỗ; 01 thanh kim loại dạng chữ "U" dài 143,5 cm, chiều ngang 3,5 cm, cao 1,3 cm; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, dài 92 cm, đường kính 02 cm, đã bị biến dạng (gãy gập, cong vênh), đây là các vật chứng mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia model 1280, sim 0705246410 thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn A, là tài sản hợp pháp của bị cáo và không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển kiểm soát 92G1-210.28 thu giữ của bị cáo Nguyễn Quốc C, đây là phương tiện bị cáo C sử dụng để đi đến nhà anh T3 thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 03 đoạn video được lưu trên 01 đĩa DVD, trích xuất từ 02 camera tại số nhà F N, phường M; 01 đoạn video được lưu trên 01 đĩa DVD, trích xuất từ camera của khách sạn S, D N, phường M; 01 đoạn video được quay bằng điện thoại IPhone X, lưu trên 01 đĩa DVD; đây là các vật chứng có giá trị chứng minh hành vi phạm tội nên lưu theo hồ sơ vụ án.

[10] Vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Đối với Phan Văn H1 và Trang Thị Minh T4 có đi theo vợ chồng Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T nhưng khi đi đến ngã ba gần nhà Nguyễn Ngọc T3 thì dừng lại không đi vào khu vực nhà Thống, không trực tiếp có mặt tại hiện trường vụ án, không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết mâu thuẫn nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự Phan Văn H1 và Trang Thị Minh T4 về tội "Gây rối trật tự công cộng" là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Giết người”; bị cáo Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  • Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 12/9/2024).

  • Căn cứ điểm b, e khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn A 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 28/8/2024).

  • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    Xử phạt bị cáo Trần Thụy T 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/02/2025).

    Giao bị cáo Trần Thụy T cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    + Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T1 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/02/2025).

    Giao bị cáo Đỗ Thanh T1 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  • Tịch thu tiêu huỷ: 01 con dao bằng kim loại dài 35,7 cm, cán dao bằng kim loại dài 11 cm, đường kính 03 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24,7 cm; 01 con dao dài 33,5 cm, cán dao bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm; 01 con dao dài 45,8 cm, cán dao bằng gỗ dài 13,8cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 32 cm; 04 viên gạch 06 lỗ; 01 thanh kim loại dạng chữ "U" dài 143,5 cm, chiều ngang 3,5 cm, cao 1,3 cm; 01 thanh kim loại hình trụ tròn, dài 92 cm, đường kính 02 cm, đã bị biến dạng (gãy gập, cong vênh).
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tấn A 01 điện thoại di động hiệu Nokia model 1280, sim số 0705246410.
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hiệu Air Blade màu đen, biển kiểm soát 92G1-210.28 của bị cáo Nguyễn Quốc C.

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2024).

  • Lưu theo hồ sơ vụ án: 03 đoạn video được lưu trên 01 đĩa DVD, trích xuất từ 02 camera tại số nhà F N, phường M; 01 đoạn video được lưu trên 01 đĩa DVD, trích xuất từ camera của khách sạn S, D N, phường M; 01 đoạn video được quay bằng điện thoại IPhone X, lưu trên 01 đĩa DVD.

3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Nguyễn Quốc C, Nguyễn Tấn A, Trần Thụy T, Đỗ Thanh T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/02/2025).

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Chủ toạ phiên toà đã giải thích quy định của pháp luật về án treo cho các bị cáo Trần Thụy T và Đỗ Thanh T1).

Nơi nhận:

  • Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • Lưu hồ sơ vụ án;
  • Lưu Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội và xử phạt bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger