Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 24/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Long

2. Bà Lê Hoàn Sinh

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoa - Thẩm tra viên TAND khu vực 1 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực I - Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/ HSST ngày 24 tháng 20 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với:

Bị cáo Bùi Văn C, sinh năm 1998; CCCD [...]; Giới tính: Nam; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: LĐTD; Con ông Bùi Văn T và bà Ngân Thị M; Vợ con: Không; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/7/2025 đến ngày 22/7/2025 chuyển tạm giam, tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/7/2025, Tổ công tác Phòng PC04 Công an tỉnh T phối hợp với Công an phường Đ, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại khu vực nút giao cao tốc Đ (thuộc thôn B, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa) phát hiện xe ô tô kiểm kiểm 36K-027.09 do Lê Thanh C1, sinh năm 1984 (trú tại khu phố A, xã N, tỉnh Thanh Hóa) điều khiển chở Bùi Văn C (ngồi ở ghế phụ) có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Khi Tổ công tác tiến hành kiểm tra, Bùi Văn C tự giác lấy từ trong túi quần bên trái C đang mặc ra 01 gói nilon màu xanh (dạng vỏ gói kẹo) bên trong có 01 túi nilon màu trắng và 02 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng giao nộp cho Tổ công tác. Bùi Văn C khai đây là ma túy, loại Heroine C mua và cất giữ để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn C; Đồng thời thu giữ, niêm phong số ma túy C giao nộp (Kí hiệu M) gửi giám định theo quy định; Ngoài ra thu giữ 01 điện thoại di động gắn sim số 0332.648.198 của Bùi Văn C để phục vụ điều tra. Cơ quan điều tra cũng tiến hành test mẫu nước tiểu của Bùi Văn C, Lê Thanh C1, kết quả: âm tính với các chất ma túy; Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn C tại thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa: Không phát hiện thu giữ gì.

Tại Kết luận giám định số 2534/KL-KTHS, ngày 18/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng của phong bì phong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 4,636 gam, loại Heroine; Chất bột màu trắng chứa trong 02 gói giấy màu trắng của phong niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,123 gam, loại Heroine. (Tổng là 4,759g, loại Heroine).

Quá trình điều tra, Bùi Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Về nguồn gốc số ma túy bị công an thu giữ Bùi Văn C khai: Khoảng 06 giờ ngày 13/7/2025, C gọi điện cho Lê Thanh C1 (làm nghề lái xe dịch vụ) thuê chở C1 đi thành phố Hà Nội (C1 không nói rõ đi đâu và làm gì) Lê Thanh C1 đồng ý sau đó điều khiển xe ô tô nhãn hiệu MG5, màu trắng, biển kiểm soát 36K-027.09 đến đón và chở Bùi Văn C đi Hà Nội. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi xe đến khu vực K, TP. Hà Nội (C không nhớ địa chỉ cụ thể) C nói Lê Thanh C1 dừng xe bên đường chờ mình. C1 một mình đi bộ vào trong ngõ, thấy một người phụ nữ bán trà đá C1 hỏi mua 1.000.000₫ ma túy, người này đồng ý. C1 đưa cho người phụ nữ 1.000.000đ, người này đưa cho C1 một túi ni lon màu xanh (dạng vỏ gói kẹo) bên trong có 02 túi nilon ma túy, loại Heroine. C1 cầm ma túy đi ra xe, trên đường đi C1 nhặt được 02 mảnh giấy màu trắng, C1 lấy 01 túi ma túy ra chia vào 02 mảnh giấy và gói lại thành 2 gói, cho tất cả vào túi nilon màu xanh cất vào túi quần bên trái rồi ra xe ô tô nói Lê Thanh C1 điều khiển xe quay về. Trên đường về, Bùi Văn C điện thoại hẹn Đoàn Văn H ở nút giao cao tốc Đ, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa để bán cho H 500.000₫ H. Khi xe vừa ra khỏi cao tốc ở nút giao Đ (thuộc phường Đ, tỉnh Thanh Hóa) thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Đồng thời Bùi Văn C còn khai: Ngoài lần cất giấu ma túy để bán và bị bắt quả tang (nêu trên) C còn bán ma túy cho Quách Văn Q. Cụ thể: Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 11/7/2025 Quách Văn Q, sinh năm 1994 (trú tại thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa) gọi đến số điện thoại 0332.648.xxx của C hỏi mua 300.000₫ ma túy loại H1, C đồng ý. Sau đó C một mình đi đến nhà Q, tại khu vực bếp nhà Q, C nhận của Q 300.000₫ và đưa cho Q 01 gói Heroine sau đó đi về. Nguồn gốc số ma túy bản cho Q là C mua của một người không quen ở TP. vào tháng 5/2025 với giá 200.000 đồng.

Ngày 14/7/2025, Cơ quan điều tra test mẫu nước tiểu của Q, kết quả: dương tính với H2. Tại Cơ quan điều tra Q thừa nhận ngày 11/7/2025 Quang điện T1 đến số 0332.648.198 cho C hỏi mua ma túy và đã mua được của C 300.000₫ H, Q đã tự sử dụng hết cho bản thân.

Lời khai của bị cáo Bùi Văn C phù hợp với lời khai của Thanh C1, của Q và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: Hiện thu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thanh Hóa gồm: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và bao gói mở niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y17s màu xanh đen, gắn kèm thẻ sim thu giữ của Bùi Văn C.

Đối với người phụ nữ mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo ngày 13/7/2025 tại khu vực K, TP. Hà Nội; Người bán ma túy cho bị cáo vào tháng 5/2025 và Đoàn Văn H là người bị cáo khai đã điện thoại liên hệ mua ma túy của bị cáo. Do bị cáo không biết nhân thân lai lịch những người này, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Đối với Lê Thanh C1 là người lái xe đưa bị cáo đi Hà Nội, anh C1 không biết, không liên quan đến việc bị cáo mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh C1.

Đối với Quách Văn Q đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên Q không có tiền án tiền sự, không phải người nghiện ma túy hoặc bị quản lý sau cai nghiện nên Cơ quan điều tra chuyển phòng CSĐTTP về ma túy quyết định xử phạt hành chính theo quy định.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSKV1 ngày 22/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa đã truy tố Bùi Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; tuyên bố Bùi Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt Bùi Văn C từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phạt tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ; Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu nộp NSNN 01 điện thoại thu giữ của bị cáo; Truy thu số tiền 300.000đ bị cáo đã bán ma túy cho Q để nộp NSNN; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn C thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ hành vi, mục đích của bị cáo và kết quả giám định có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/7/2025, tại thôn Đ, xã T, tỉnh Thanh Hóa, Bùi Văn C đã có hành vi bán cho Quách Văn Q 300.000₫ ma túy loại Heroin; Và hồi 15 giờ 30 phút ngày 13/7/2025, tại khu vực nút giao cao tốc Đ (thuộc thôn B, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa) Bùi Văn C đã có hành vi cất giữ 4,759g ma túy, loại Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hóa truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng; Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy. Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi phạm tội khác nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo; Tự nguyện khai báo với cơ quan điều tra về hành vi bán ma túy cho Q trước khi bị phát hiện, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự.

Bị cáo đã một lần bán được ma túy cho Q ngày 11/7/2025; Đối với hành vi bị cáo tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích bán kiếm lời và bị bắt quả tang ngày 13/7/2025. Do bị cáo chưa bán được cho ai vì vậy không bị coi là hai lần bán ma túy (Theo Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007). Do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên”; Bị cáo có nhân thân tốt. Vì vậy HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật. Song cần cách li bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và đề phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Do bị cáo mua bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, đã thu lợi từ việc bán ma túy do đó áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251-BLHS

[6] Đối với người phụ nữ mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo ngày 13/7/2025 tại khu vực K, TP. Hà Nội và người bán ma túy cho bị cáo vào tháng 5/2025. Do bị cáo không biết nhân thân lai lịch những người này, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ gì khác, Cơ quan điều tra không có cở sở để xác minh làm rõ; Đối với Đoàn Văn H (là người bị cáo khai đã điện thoại liên hệ mua ma túy của bị cáo) Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác minh làm rõ song chưa xác định được nhân thân lai lịch người này, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, như vậy là đúng quy định của pháp luật.

[7] Đối với Lê Thanh C1 là người lái xe đưa bị cáo C1 đi Hà Nội, Thanh C1 không biết việc bị cáo C1 mua bán ma túy, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Thanh C1 là đúng pháp luật.

[8] Đối với Quách Văn Q đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên Q không có tiền án tiền sự, không phải người nghiện ma túy hoặc bị quản lý sau cai nghiện nên cơ quan điều tra chuyển phòng CSĐTTP về ma túy quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 23; Điều 69 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021

[9] Vật chứng vụ án: Số ma túy mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; Chiếc điện thoại bị cáo sử dụng lên hên hệ bán ma túy cho Q là công cụ phạm tội và số tiền bị cáo thu được từ việc bán ma túy cho Q là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu nộp NSNN theo quy định tại khoản 2 Điều 106 - BLTTHS.

[10] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn C 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/7/2025.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh T2, Hoàng Thị N (niêm phong số ma túy còn lại sau giám định và bao gói mở niêm phong); Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Vivo Y17s, màu xanh đen, số Imei: 861394062650598, điện thoại gắn kèm thẻ sim thu giữ của Bùi Văn C. Toàn bộ vật chứng nêu trên đang được thu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực I - Thanh Hoá, theo “Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản” số 11/2026/KV1 ngày 27/10/2025 giữa Công an tỉnh T và Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Truy thu của Bùi Văn C số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nộp Ngân sách Nhà nước

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 - BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSNDKV 1 -Thanh Hóa;
  • - VP CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn C (Mua bán TPCMT)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger