Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 21-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hải

Bà Lê Thị Sinh Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Quốc Dũng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Thị Ánh N, sinh ngày 15 tháng 3 năm 1959 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công V (chết) và bà Đặng Thị K (chết) bị cáo chồng và 03 người con; tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/01/2025 cho đến ngày 23/3/2025. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 07/01/2025, Trần Thị Ánh N đem theo điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus và 01 tờ giấy tập học sinh đến quán nước giải khát của bà Hồ Thị H, sinh năm 1956, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh để bán số đề các đài Vũng Tàu, Bến Tre và Bạc Liêu của ngày 07/01/2025 cho 07 người tham gia đánh bạc và 02 người không rõ lai lịch với tổng số tiền đánh bạc là 5.851.000 đồng, cụ thể như sau:

  • Trần Thị Kim K1, sinh năm 1993, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 06 con số đề với tổng số tiền 540.000 đồng.
  • Nguyễn Văn L, sinh năm 1974, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 06 con số đề với tổng số tiền 618.000 đồng.
  • Trịnh Thị T, sinh năm 1964, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 02 con số đề với tổng số tiền 134.000 đồng.
  • Lê Mỹ L1, sinh năm 1982, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 04 con số đề với tổng số tiền 268.000 đồng.
  • Võ Thị T1, sinh năm 1954, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 15 con số đề với tổng số tiền 1.545.000 đồng.
  • Nguyễn Thị B, sinh năm 1988, ngụ ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 01 con số đề với số tiền 134.000 đồng.
  • Lý Thị Thúy H1, sinh năm 1980, ngụ khu phố D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh: mua 02 con số đề với tổng số tiền 520.000 đồng.
  • 01 người đàn ông (chưa rõ lai lịch): mua 13 con số đề với tổng số tiền 1.087.000 đồng.
  • 01 người phụ nữ (chưa rõ lai lịch): mua 15 con số đề với tổng số tiền 1.005.000 đồng.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi N đang ghi số đề thì bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.

3

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Ánh N khai nhận khoảng đầu tháng 12/2024, người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) có tài khoản zalo là “Du Nguyễn” liên lạc qua tài khoản zalo của N là “Trần N”, thỏa thuận Ngọc bán số đề cho khách rồi giao lại cho D để hưởng tiền hoa hồng 10% trên tổng số tiền đề đã giao. Hàng ngày, N bán số đề cho khoảng từ 04 đến 07 người với số tiền khoảng 1.000.000 đồng/01 ngày rồi giao lại cho D để hưởng tiền hoa hồng, N khai nhận trước đó đã bán số đề được 05 lần (không xác định được ngày, giờ), tổng số tiền N thu lợi bất chính là 500.000 đồng/05 ngày. Vào ngày 07/01/2025, sau khi ghi bán số đề cho khách xong, giữa N và khách hứa hẹn khi nào có kết quả sổ số mới giao nhận tiền. N chưa kịp giao lại cho D thì bị bắt quả tang.

* Tài liệu, đồ vật thu giữ:

  • 01 tờ giấy tập học sinh, có ghi các con số đề các đài Vũng Tàu, Bến Tre và Bạc Liêu ngày 07/01/2025, có chữ ký xác nhận của bị cáo (vật chứng được lưu vào hồ sơ vụ án);
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSBC ngày 18 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Trần Thị Ánh N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo về chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, lời khai người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ ngày 07/01/2025, tại khu vực thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Trần Thị Ánh N có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề các đài Vũng Tàu, Bến Tre và Bạc Liêu cho nhiều người tham gia được thua bằng tiền. Hành vi phạm tội của bị cáo đã bị phát hiện và ngăn chặn trước khi mở thưởng kết quả sổ xố nên xác định tổng số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 5.851.000 đồng. Do đó, có căn cứ xác định bị cáo Trần Thị Ánh N phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được nhà nước bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có chồng là thương binh là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều

5

51 của Bộ luật Hình sự mà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; là người cao tuổi. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho hưởng án treo vẫn có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[7] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, số IMEI: 355835088727417 (đã qua sử dụng): là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Tiếp tục lệnh phong tỏa tài sản số 57/LPT-ĐTTH ngày 06/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Trần Thị Ánh N là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Đối với Trần Thị Kim K1, Nguyễn Văn L, Trịnh Thị T, Lê Mỹ L1, Võ Thị T1, Nguyễn Thị B, Lý Thị Thúy H1 có hành vi mua số đề của Trần Thị Ánh N nhưng chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc, số tiền đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện B đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

[11] Đối với người đàn ông tên D và 02 người khác mua số đề của N, không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

[12] Đối với bà Hồ Thị H không biết Trần Thị Ánh N bán số đề tại quán nước của mình quản lý, không tham gia đánh bạc, không hưởng lợi ích gì nên không xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

6

  1. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, 38, 65 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Ánh N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/3/2025) về tội “Đánh bạc”.

    Giao bị cáo Trần Thị Ánh N cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
  3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen, số IMEI: 355835088727417 (đã qua sử dụng).

    (Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu).

  4. Tiếp tục lệnh phong tỏa tài sản số 57/LPT-ĐTTH ngày 06/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để đảm bảo thi hành án.
  5. Về án phí: bị cáo Trần Thị Ánh N được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành

7

án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi Cu. c THADS huyện Bến Cầu;
  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - UBND xã;
  • - Bộ phần thi hành án;
  • - Lưu: Hồ sơ, tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thúy Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger