|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 16/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Tại điểm cầu trung tâm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Đình Sở.
Ông Bùi Đức Quảng
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thuỷ, Thẩm tra viên - Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hà Lệ Thu, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hà Văn T. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/8/1998 tại T, Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Hà Văn T1, sinh năm 1973; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1973.
- Tiền án, tiền sự không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam - Công an tỉnh P.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T - Bà Đinh Thị H trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (Bà H có mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Thế A, Sinh năm 1962
Địa chỉ: Khu H, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(ông A vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 30 tháng 12 năm 2024, Tổ công tác đội Cảnh sát giao thông-trật tự - Công an huyện T phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma tuý - Công an huyện T tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự, trật tự an toàn giao thông địa bàn thị trấn T, huyện T. Khi tiến hành tuần tra đến khu vực bến xe huyện T thuộc Phố B, thị trấn T, huyện T thì phát hiện 02 nam thanh niên đi trên xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xanh đen đeo BKS: 19D1- 245.83, người ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm nên tiến hành kiểm tra. Người điều khiển xe mô tô tự khai họ tên là Bùi Thế A. Nam thanh niên ngồi sau tự khai tên họ tên là Hà Văn T. Quá trình kiểm Hà Văn T khai nhận bản thân đang tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine). Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến tiến hành kiểm tra theo quy định. T đã tự giác lấy trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mở ra mặt trong màu trắng có chứa chất bột cục màu trắng, T khai là ma túy Heroin của T tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tạm giữ của Hà Văn T: 01 (một) gói giấy, mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chất bột cục màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc, bên trong lắp sim số 0374.235.161. Số IMEI: 359155072168247; 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng; Tiền ngân hàng N: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
Tiến hành test nhanh chất ma túy đối với Hà Văn T và Bùi Thế A, kết quả Hà Văn T dương tính với chất ma túy; Bùi Thế A âm tính với chất ma túy.
Ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Văn T tại xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Quá trình điều tra, Hà Văn T đã khai nhận hành vi tàng trữ số ma tuý như đã nêu trên, ngoài ra còn khai bản thân là người nghiện ma tuý, mục đích tàng trữ ma tuý là T để sử dụng cho bản thân, không có mục đích nào khác. Việc T tàng trữ trái phép chất ma tuý trong người anh Thế A hoàn toàn không biết.
Tại bản kết luận giám định số: số 09/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,342 gam, loại Heroine (H).
* Heroine (H) là chất ma tuý STT: 09, Danh mục IA, Nghị định số57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ..
H1 lại đối tượng giám định: 0,182gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được dán kín, niêm phong trong 01 bì giấy, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán”.
Tại bản cáo trạng số: 13/CT – VKS- ThS ngày 11/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Hà Văn T từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18(Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 30/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 5 Điều 255- BLHS đối với bị cáo Hà Văn T.
* Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47- BLHS; Điều 106 - BLTTHS, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- - 01 (Một) túi niêm phong mã số PS3 2137089 của Phòng K - Công an tỉnh P. Trên bì ghi: Trả lại sau khi trích mẫu giám định dã trả lại 0,182gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong vụ Hà Văn T, sinh năm 1998, nơi cư trú xóm B, xã Đ, T, Phú Thọ có hành vi phạm tội về chất ma tuý. Mặt sau của bì giấy có chữ ký xác nhận của các thành phần liên quan và 05 hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
- - 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng.
Trả lại cho Hà Văn T: Tiền ngân hàng N: 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã qua sử dụng, số IMEI: 359155072168247, bên trong gắn sim của số điện thoại 0374.235.xxx do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T:
Bà H đề nghị HĐXX xem xét đến tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật cho bị cáo T được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của bản thân, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội và cũng là thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng trong chính sách của nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.
Bị cáo T không tranh luận gì với Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về cộng đồng và sống có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng không có gì oan sai. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 30/12/2024, tại khu vực bến xe huyện T thuộc Phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Hà Văn T đã có hành vi tràng trữ trái phép 0,342 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, hành vi đó của Hà Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, các chất gây nghiện, chất hướng thần, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm. Xong bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần căn cứ vào tính chất, hành vi nguy hiểm của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa và làm gương cho người khác.
[4]. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trước lần phạm tội này, bị cáo chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt về hành vi, vi phạm pháp luật, chưa bị Tòa án có thẩm quyền kết án về hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức trên khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật qui định cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - BLHS thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Căn cứ vào các tài liệu xác minh của cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh, bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định, hiện sống cùng mẹ đẻ xã Đ nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Về nguồn gốc ma túy: T khai do có nhu cầu sử dụng ma tuý. Chiều ngày 29/12/2024 T đi một mình đến khu vực quận L - Thành phố Hà Nội gặp một người đàn ông không quen biết, T đã hỏi mua và được người đàn ông này bán cho 300.000 đồng ma tuý loại Heroine. Sau khi mua được ma tuý, T đã sử dụng một phần, còn một phần T cất giấu trong người. Ngoài lời khai của T không có chứng cứ nào khác, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ xử lý đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho T vào ngày 29/12/2024.
[7]. Về vật chứng vụ án: Ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi lưu hành của các cá nhân, tổ chức; Vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo qui định pháp luật, gồm:
- - 01 (Một) túi niêm phong mã số PS3 2137089 của Phòng K - Công an tỉnh P. Trên bì ghi: Trả lại sau khi trích mẫu giám định đã trả lại 0,182gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong vụ Hà Văn T, sinh năm 1998, nơi cư trú xóm B, xã Đ, T, Phú Thọ có hành vi phạm tội về chất ma tuý. Mặt sau của bì giấy có chữ ký xác nhận của các thành phần liên quan và 05 hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
- - 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng, là tài sản của Hà Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Hà Văn T, nhưng T không yêu cầu nhận lại.
Đối với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)Tiền ngân hàng N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã qua sử dụng, số IMEI: 359155072168247, bên trong gắn sim của số điện thoại 0374.235.xxx cần trả lại cho bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Các nội dung khác:
Đối với Bùi Thế A: Ngày 30/12/2024, T gọi điện thoại cho Thế A nói là đang trên đường đi ô tô khách từ Hà Nội về bến xe khách huyện T và nhờ Thế A đón, Thế A đồng ý và rủ T về nhà tại xã G. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Thế A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh-đen, BKS : 19D1- 245.83 đến Bến xe ô tô khách huyện T chở T ngồi sau không đội mũ bảo hiểm. Khi đi đến khu vực Phố B, thị trấn T, huyện T thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện T kiểm tra. Lúc này T khai nhận bản thân đang tàng trữ ma túy Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra xác định, Thế A không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma tuý trong người. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Thế A cho kết quả âm tính. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với Bùi Thế A.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” .
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 5 Điều 249 cho bị cáo Hà Văn T.
2 . Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; Điểm a, c khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- - 01 (Một) túi niêm phong mã số PS3 2137089 của Phòng K - Công an tỉnh P. Trên bì ghi: Trả lại sau khi trích mẫu giám định dã trả lại 0,182gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong vụ Hà Văn T, sinh năm 1998, nơi cư trú xóm B, xã Đ, T, Phú Thọ có hành vi phạm tội về chất ma tuý. Mặt sau của bì giấy có chữ ký xác nhận của các thành phần liên quan và 05 hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh P tại các mép dán kín.
- - 01 chiếc ví giả da màu đen đã qua sử dụng.
Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản sau:
Trả lại cho Hà Văn T số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)Tiền ngân hàng N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc đã qua sử dụng, số IMEI: 359155072168247, bên trong gắn sim của số điện thoại 0374.235.xxx cần trả lại cho bị cáo, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng là đồ vật được tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn theo biên bản ngày 21/3/2025. Vật chứng là tiền đã được cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh P bàn giao cho chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn theo uỷ nhiệm chi ngày 24/3/2025.
3. Về Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Đào Thị Anh Nhinh |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
