Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAN PHƯỢNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số:15/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 3 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sen

Ông Bùi Văn Độ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Trần Mạnh C, sinh năm 1972 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú tại: Cụm F, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang C1 (đã chết) và bà Lê Thị L; có vợ và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 004 do Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội lập ngày 03/01/2025; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
  2. Vũ Văn H, sinh năm 1976 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Cụm G, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn D và bà Trần Thị P (đã chết); có vợ và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 003 do Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội lập ngày 03/01/2025; bị tạm giữ từ ngày 26/12/2024 đến ngày 31/12/2024; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trần Thị T, sinh năm 1974; nơi cư trú: Cụm F, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được đơn tố giác của người dân về việc tại nhà của Trần Mạnh C có diễn ra hành vi mua bán số lô, số đề, nên khoảng 11 giờ 20 phút ngày 26/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Trần Mạnh C ở cụm F, xã T, huyện Đ. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ của Trần Mạnh C 4.300.000 đồng, C khai là tiền bán số lô, số đề ngày 24/12/2024; 01 tờ giấy A4 ghi các số lô, số đề ngày 24/12/2024; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 khe sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50s, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 chiếc ví, kích thước (20x10) cm bên trong có 25.430.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, C khai: ngày 24/12/2024, C đã bán số lô, số đề cho 03 khách qua đường (không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể) và Vũ Văn H với giá 01 điểm lô là 22.000 đồng, nếu trúng 01 điểm thì được 80.000 đồng, đề thu 80% tổng số tiền khách mua số đề, nếu trúng đề thì tỉ lệ 01 x 70 lần số tiền. Khi khách mua số lô, số đề, C sẽ ghi những số lô, số đề đã bán cho khách vào 01 tờ giấy khổ A4 (gọi là bảng đề) để theo dõi và ghi những số lô, số đề khách đã mua vào một tờ giấy nhỏ (gọi là tích kê) đưa cho khách giữ để làm căn cứ thanh toán. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, C đối chiếu kết quả để thanh toán tiền cho khách.

Ngày 24/12/2024, tổng số tiền C đã bán số lô, số đề là 17.068.000 đồng, cụ thể: Lô A gồm 21 x 10 điểm, 61 x 15 điểm, 69, 96 x mỗi số 5 điểm, 19 x 25 điểm. Lô B gồm 21 x 10 điểm, 64 x 25 điểm, 58, 85, 80, 08, 88, 33 x mỗi số 10 điểm, 85, 58, 99 x mỗi số 5 điểm, 22, 66 x mỗi số 10 điểm, 40, 45 x mỗi số 25 điểm, 80, 81, 88 x mỗi số 20 điểm, 48 x 5 điểm, 91 x 25 điểm, 89, 98, 37, 73 x mỗi số 50 điểm. Tổng lô A, B là 540 điểm x 22.000 đồng= 11.880.000 đồng. Đề A gồm 45, 36, 27 x mỗi số 10.000 đồng; 15, 72, 54, 91 x mỗi số 20.000 đồng; 19, 46, 64 04, 40, 68, 86 x mỗi số 10.000 đồng; kép lệch (05, 50, 16, 61, 27, 72, 38, 83, 49, 94) x mỗi số 6.000 đồng; đầu 5 x mỗi số 12.000 đồng, tổng là 360.000 đồng. Đề B gồm 36, 45 x mỗi số 10.000 đồng; 63 x 30.000 đồng, 54 x 100.000 đồng; 33, 88, 27 x mỗi số 20.000 đồng; 72 x 200.000 đồng, 91 x 50.000 đồng, 15 x 20.000 đồng, 51 x 10.000 đồng, 37 x 120.000 đồng; 46, 64, 04, 40, 68, 86 x mỗi số 50.000 đồng; kép lệch x 6.000 đồng; 55 x 20.000 đồng; 72 x 220.000 đồng; 00 x 70.000 đồng; kép x 20.000 đồng; 05, 21 x mỗi số 60.000 đồng; 84 x 20.000 đồng; 70, 20 x mỗi số 60.000 đồng; 72 x 220.000 đồng; 41, 91, 31, 36, 63, 33, 97, 57 x mỗi số 6.000 đồng; 67, 93, 17, 71, 81, 11, 99, 66, 87, 58, 37, 77 x mỗi số 6.000 đồng; Đầu 6 x 100.000 đồng; 61, 63, 65, 67, 69 x mỗi số 100.000 đồng; 37 x 30.000 đồng; 85 x 20.000 đồng; 84 x 50.000 đồng; 91,54 x mỗi số 60.000 đồng; 09,90, 69, 96, 79 x mỗi số 10.000 đồng; 97 x 90.000 đồng; 94,49, 59, 95 x mỗi số 10.000 đồng; 90, 94, 96, 93 x mỗi số 20.000 đồng; 39, 91, 19, 89, 98 x mỗi số 10.000 đồng; 29, 92, 99, 88, 00 x mỗi số 10.000 đồng, tổng 4.300.000 đồng. Đề lách AB gồm 14, 41, 16, 61, 46, 64 x mỗi số 15.000 đồng; 14, 41, 16, 61, 46, 64 x mỗi số 15.000 đồng; 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88 x mỗi số 12.000 đồng, tổng 528.000 đồng. Tổng số tiền đánh đề là 5.188.000 đồng. Tổng số tiền đánh lô, đề trong ngày 24/12/2024 của C là 17.068.000 đồng.

Đối chiếu với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 24/12/2024, người chơi đã trúng thưởng tổng số tiền 18.340.000 đồng, cụ thể: người chơi đã trúng thưởng số đề A, đầu 5 (50, 51, 52, 53, 54, “55”, 56, 57, 58, 59), trúng số 55 x 12.000 đồng= 840.000 đồng; đề B 44 x 10.000 đồng= 700.000 đồng; Kép (00, 11, 22, 33, “44", 55, 66, 77, 88, 99), trúng 44 x 20.000 đồng= 1.400.000 đồng; đề A 44 x 20.000 đồng= 1.400.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng đề là 4.340.000 đồng. Người chơi đã trúng tiền lô A gồm 19 x 25 điểm= 2.000.000 đồng; 88 x 10.000 điểm= 800.000 đồng; 66 x 10 điểm 2 nháy= 1.600.000 đồng; 40 x 25 điểm = 2.000.000 đồng; 88 x 20 điểm= 1.600.000 đồng; 91 x 25 điểm= 2.000.000 đồng; 98 x 50 điểm = 4.000.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng lô là 14.000.000 đồng.

C đã thanh toán cho 03 người mua 13.990.000 đồng, còn 01 người không rõ nhân thân, địa chỉ trúng 50 điểm lô và 5.000 đồng tiền đề là 4.350.000 đồng vẫn chưa đến lấy thưởng.

Đối với Vũ Văn H đã mua của C 04 số lô B: 98, 89, 37, 73 mỗi số 50 điểm, tổng là 200 điểm lô với số tiền là 4.400.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số Miền B, H trúng thưởng số tiền là 4.000.000 đồng. Khoảng 08h giờ ngày 25/12/2024, H đến nhà C để lấy tiền trúng lô nhưng C không có nhà. C đã nhờ vợ là chị Trần Thị T chuyển khoản số tiền 4.000.000 đồng cho H.

Trên cơ sở lời khai của C và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được, ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Mạnh C và Vũ Văn H.

Tiếp tục thu giữ của Vũ Văn H: 01 (một) chiếc điện thoại sử dụng để chuyển khoản tiền mua số lô của anh C, nhãn hiệu Iphone 11 bên trong lắp 01 thẻ sim.

Thu giữ của Trần Thị T (là vợ của C) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng bên trong lắp 01 thẻ sim.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát để xác minh nhân thân của những người đến mua số lô, số đề của C nhưng không làm rõ được.

Bản Cáo trạng số 13/CT-VKS- ĐP ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố Trần Mạnh C về tội Tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự; truy tố Vũ Văn H về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai trong quá trình điều tra và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Mạnh C từ 14 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 36 tháng. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Văn H từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 4.300.000 đồng bán số lô, số đề; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim; 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 bên trong lắp 01 thẻ sim. Trả lại bị cáo C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50s, màu xanh, đã qua sử dụng; trả lại chị Trần Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng. Truy thu của bị cáo C số tiền 10.040.000 đồng và của bị cáo H số tiền 4.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Vụ án được điều tra, truy tố đúng thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ. Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Trần Mạnh C có cửa hàng kinh doanh bán tạp hóa. Để có thêm lợi nhuận nên C bán số lô, số đề cho khách đến mua hàng. C thỏa thuận với khách giá 01 điểm lô là 22.000 đồng, nếu trúng 01 điểm thì được 80.000 đồng, đề sẽ thu 80% tổng số tiền khách mua số đề, nếu trúng đề thì tỉ lệ 01 x 70 lần số tiền. Ngày 24/12/2024, C đã bán trực tiếp số lô, số đề cho 4 người khách đến cửa hàng của C với tổng số tiền 17.068.000 đồng, trong đó bán cho Vũ Văn H 200 điểm lô với số tiền là 4.400.000 đồng và bán cho 3 người không quen biết khác với số tiền 12.668.000 đồng. Đối chiếu với kết quả sổ xố miền Bắc ngày 24/12/2024, cả 4 người chơi đã trúng thưởng tổng số tiền 18.340.000 đồng, trong đó Vũ Văn H trúng 4.000.000 đồng. C đã thanh toán trả thưởng cho 2 người khách đến lấy trực tiếp và nhờ vợ là chị T chuyển khoản trả H số tiền trúng thưởng 4.000.000 đồng. Còn một khách (không rõ nhân thân) trúng thưởng số tiền 4.350.000 đồng, chưa đến lấy. Tổng số tiền C đã đánh bạc ngày 24/12/2024 là 35.408.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc với C là 8.400.000 đồng.
  3. Hành vi của Trần Mạnh C đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho nhiều người vào ngày 24/12/2024 với tổng số tiền 35.408.000 đồng như nêu trên đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.
    1. Hành vi của Vũ Văn H đánh bạc với Trần Mạnh C số tiền 8.400.000 đồng đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
    2. Các bị cáo thực hiện hành vi khi đều đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 13/CT-VKS- ĐP ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố để đưa ra xét xử Trần Mạnh C về tội Tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự và Vũ Văn H về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. Hành vi của các bị cáo như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có hiểu biết, có công việc hợp pháp để kiếm sống nhưng vì hám lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi bị pháp luật hình sự cấm. Vì vậy, phải xét xử các bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa tội phạm nói chung.
  5. Đánh giá mức độ phạm tội của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.
    1. Hành vi của bị cáo C tổ chức cho nhiều người đánh bạc, có tính chất nghiêm trọng hơn hành vi của bị cáo H nên C sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn. Bị cáo C được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự do trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo và bị cáo đã có thời gian tham gia quân ngũ.
    2. Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa cũng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
    3. Xét thấy, các bị cáo đánh bạc với số tiền không lớn, phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo đều là người lao động nhất thời phạm tội, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục, đồng thời không ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa tội phạm chung.
  6. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 và khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự, các bị cáo còn có thể phải bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có điều kiện đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung các bị cáo.
  7. Trần Thị T là vợ bị cáo C được C nhờ chuyển khoản trả H 4.000.000 đồng tiền trúng số lô nhưng chị T không biết đó là tiền C và H đánh bạc nên không phạm tội.
  8. Áp dụng các biện pháp tư pháp:
    1. Các vật chứng gồm: số tiền 4.300.000 đồng tiền đánh bạc; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh, bên trong lắp 01 sim của Trần Mạnh C, 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 bên trong lắp 01 thẻ sim của Vũ Văn H đã sử dụng để chuyển khoản và nhận chuyển khoản của nhau tiền mua số lô nên sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
    2. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50s màu xanh của bị cáo C, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng của chị Trần Thị T không sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo và chị T.
    3. 01 tờ giấy A4 ghi các số lô, số đề ngày 24/12/2024 là chứng cứ của vụ án nên sẽ lưu hồ sơ.
    4. Số tiền bị cáo C đã nhận của người có được do bán số lô, số đề cho người khác sẽ bị truy thu để sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 4.300.000 đồng. Còn phải nộp tiếp 10.040.000đồng.
    5. Số tiền 4.000.000 đồng bị cáo H trúng số lô là tiền do phạm tội mà có nên cũng bị truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước.
  9. Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Mạnh C 15 ( mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 ( Ba mươi ) tháng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn H 08 ( T1 ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 ( Mười sáu ) tháng về tội “Đánh bạc”.

    Giao bị cáo Trần Mạnh C và Vũ Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 4.300.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, màu xanh đã qua sử dụng, số emei (khe 1) 355036115096724 trên máy lắp 01 thẻ sim và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh đã qua sử dụng, số seri: FK1D519YN740, số máy: MWN62CH/A, trên máy lắp 01 thẻ sim.

    Trả lại bị cáo Trần Mạnh C 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50s, màu xanh đã qua sử dụng, số emei (khe 1) 352049112437307, trên máy lắp 01 thẻ sim. Trả lại chị Trần Thị T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh đã qua sử dụng, số emei (khe 1) 860244069700683, trên máy lắp 01 thẻ sim.

    Truy thu của Trần Mạnh C số tiền 10.040.000 đồng và của Vũ Văn H số tiền 4.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

    (Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng).

  4. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Mạnh C, Vũ Văn H, mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đan Phượng;
  • - CCTHADS huyện Đan Phượng;
  • - CQ THAHS........................;
  • - Bị cáo, NLQ...;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Mạnh C tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger