|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 15/2025/HS-ST Ngày 26 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Quốc Trị.
- Ông Hà Xuân Ninh.
Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST- HS ngày 20/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Đình T, tên gọi khác: không, sinh năm 2002 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lái xe; giới tính: nam; trình độ văn hóa: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đỗ Đình T1 và bà Đỗ Thị T2; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/9/2024 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại:
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1970, trú tại: thôn V, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Chị Lê Thị H, sinh năm 1980, trú tại: thôn V, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (đã chết).
Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lê Thị H: anh Trần Văn N, sinh năm 1978 trú tại: thôn V, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
Người làm chứng: anh Lưu Thế P (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Đình T có giấy phép lái xe ô tô hạng C theo quy định. T lái xe thuê cho anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố B T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Khoảng 04 giờ ngày 30/7/2024, theo phân công của anh Đ, T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36H - 022.19 chở gỗ đi từ huyện T, Thanh Hóa. Lịch trình di chuyển qua huyện G, tỉnh Ninh Bình để ra Quốc lộ A đi tỉnh Hưng Yên. Đi cùng trên xe có anh Lưu Thế P, sinh năm 1984, trú tại thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe đến đường đê tả sông H, thuộc địa phận thôn T, xã G, huyện G, theo hướng cầu Đ ra Quốc lộ A. Khi đi đến ngã ba giao nhau với đường đi vào thôn T, xã G, lúc này chị Trần Thị C, sinh năm 1970, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35F8-5747, chở chị Lê Thị H, sinh năm 1980 (chị C và chị H cùng trú tại thôn V, xã G, huyện G), đang đi từ thôn T, xã G đến ngã ba giao nhau với đường đê tả sông H để rẽ trái đi ra hướng Quốc lộ A. Do điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc, không làm chủ tốc độ, nên T đã để phần đầu xe ô tô do T điều khiển va chạm vào phần bên phải xe mô tô do chị C điều khiển, làm chị C và chị H bị ngã xuống đường, xe mô tô biển kiểm soát 35F8-5747 mắc kẹt dưới gầm trước ô tô, bị xe ô tô đẩy về phía trước cách phần đầu chị H 61m thì dừng lại. Hậu quả: Chị Lê Thị H tử vong tại hiện trường; chị Trần Thị C bị thương, được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh biện đến ngày 09/8/2024 thì ra viện.
3
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, thu thập dấu vết của vụ tai nạn. Kết quả điều tra đã xác định cụ thể như sau:
Về hiện trường: hiện trường được khám nghiệm trong điều kiện trời sáng, có mưa, mặt đường trơn ướt. Hiện trường không còn nguyên vẹn do nạn nhân bị thương đã được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ngã ba đường giao nhau giữa đường đê tả ngạn sông H với đường T, xã G, huyện G; hiện trường nằm hoàn toàn trên mặt đường đê tả ngạn sông H, là đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa rộng 6,15m; đường đi thôn T, xã G là đường thẳng, mặt đường bê tông rộng 3,5m, có độ lên dốc theo chiều đi lên đê tả ngạn sông H. Ngã ba giao nhau có điểm giao rộng 20,3m.
Quá trình khám nghiệm lấy mép đường phía bên phải đê tả sông H theo hướng phương tiện lưu thông cầu Đ đi Quốc lộ A làm chuẩn, lấy điểm giao nhau thứ nhất của ngã ba đường giao nhau giữa đường đê tả ngạn sông H với đường T, xã G theo hướng phương tiện lưu thông Quốc lộ A đi cầu Đế làm điểm mốc.
- - Nạn nhân (đánh số 1): Chị Lê Thị H tử vong tại hiện trường, tư thế nằm sấp. Đầu hướng về phía mép đường chuẩn, mặt quay về hướng cầu Đ. Đầu cách mép đường chuẩn 1,05m. Chân phải duỗi thẳng, đầu ngón cái bàn chân phải cách mép đường chuẩn 2,6m, cách điểm mốc 35m; Chân trái co gối.
- - Xe ô tô biển kiểm soát 36H - 022.19 (đánh số 2): Sau khi xảy ra tai nạn đã đỗ trên mặt đường đê tả sông H, đầu xe hướng về phía cầu G. Trục bánh trước bên
4
phải cách mép đường chuẩn 2,8m, cách đầu chị H 61m. Trục bánh sau bên phải đến mép đường chuẩn là 2,55m.
- - Xe mô tô biển kiểm soát 35F8 - 5747 (đánh số 3): Sau khi xảy ra tai nạn đổ nghiêng bên trái trên mặt đường tả sông H, đầu xe hướng ra mép đường chuẩn. Trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 2,6m, đến đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô tải biển kiểm soát 36H - 022.19 là 0,5m; Trục sau xe mô tô đến mép đường chuẩn là 3,8m, đến trục bánh trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 36H - 022.19 là 1,4m.
- - Vết sạt (đánh số 4): Vết sạt trên mặt đường đê tả sông H dài 65,9m, rộng 0,45m có chiều cầu Đ đi Quốc lộ A. Điểm đầu vết đến mép đường chuẩn là 2,05m, đến mốc là 14,3m. Điểm cuối trùng với điểm tiếp xúc của đầu để chân phía trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 35F8 -5747 với mặt đường.
- - Diện nhựa vỡ (đánh số 5): Có kích thước (5x18)m, khoảng cách từ tâm diện nhựa vỡ đến mốc là 39m, đến chân phải tử thi chị H là 4m.
Về khám nghiệm tử thi: tại bản Kết luận giám định tử thi số 705/KLGĐTT-KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết quả giám định như sau:
Khám ngoài: Chiều dài từ thi: 156cm, thể tạng: trung bình, tử thi đang trong giai đoạn lạnh. Trên ngoài mặc áo khoác dài tay màu đỏ, có mũ, thân áo ẩm ướt, bám dính máu, rải rác có nhiều vết mài trượt, rách xơ vải. Trong mặc áo phông cộc tay cổ tròn màu đỏ, thân áo bám dính nhiều máu, mặt trước 1/2 phía trên ngực áo rải rác có nhiều vết mài trượt, rách xơ vải. Trong cùng mặc nịt vú màu trắng, bám dính nhiều máu. Dưới ngoài mặc quần dài cạp chun màu nâu, quần bám dính nhiều máu và bụi đất, ống quần hai bên và đũng quần phía trước rải rác có nhiều vết mài trượt, rách xơ vải, rách bung đường chỉ trong ống quần phải dài 30cm từ gấu quần. Trong mặc quần đùi cạp chun màu đen, quần rải rác bám dính máu, mặt trước ống quần phải có nhiều vết mài trượt, rách xơ vải. Trong cùng mặc quần lót màu xanh, quần rải rác bám dính máu.
Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:
- - Vùng đầu, mặt, cổ: Vùng đầu có tóc màu đen che phủ, tóc bám dính nhiều máu. Vùng mặt bên trái, kéo dài từ vùng trán trái + cung mày trái + gò má trái có nhiều vết mài trượt, sây sát da, tụ máu, không liên tục, kích thước (10 x8)cm. Hai mắt nhắm, đồng tử hai bên giãn căng, nhãn cầu hai bên không tổn thương. Hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông; đầu lưỡi kẹt giữa hai cung răng. Niêm mạc môi trên và môi dưới có nhiều vết bầm tụ máu; gãy hở xương hàm dưới, đường vỡ đi qua kẽ răng cửa số 1 và số 2 hàm dưới, vùng cằm có vết rách thùng da cơ, tụ máu, kích thước (3x2)cm, thông với khoang miệng, qua vết rách thủng để lộ đầu gãy xương hàm dưới. Hệ thống xương chính mũi, xương gò má hai bên không tổn thương. Cổ mất vững, xương đốt sống vùng cổ lỏng lẻo.
5
- - Vùng ngực, bụng, lưng: Ngực mất vững, vùng ngực bẹp dập biến dạng. Da vùng ngực hai bên có nhiều vết mài trượt, sây sát da, tụ máu, không liên tục. Vùng mạn sườn phải + vùng bụng phải có nhiều vết sây sát da, tụ máu, không liên tục, kích thước (25x15)cm. Khung xương lồng ngực gãy vỡ nhiều vị trí: gãy kín nhiều xương sườn hai bên, gãy kín 1/2 giữa thân xương ức, gãy kín phức tạp hai xương đòn thành nhiều đoạn.
- - Vùng chậu hông, sinh dục: Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài không tổn thương. Hậu môn không bài xuất phân. Mặt trước khung chậu phải + 1/3 trên mặt trước đùi phải có nhều vết mài trượt, rạn da, tụ máu, trong đó vết rách lóc da cơ, tụ máu tại mặt trước đùi phải kích thước (8x5)cm.
- - Tay, chân: Hai tay: mặt mu hai bàn tay có nhiều vết sây sát da, tụ máu, không liên tục. Mặt trước 1/2 trên cánh tay trái có diện bầm tụ máu, kích thước (10x5)cm. Chân phải: mặt trước trong 2/3 dưới đùi phải + cẳng chân phải có diện mài trượt, sây sát, tụ máu da cơ, trong đó diện rách lóc da cơ tại mặt trước trong căng chân, kích thước (45x20)cm để lộ toàn bộ hệ thống cân cơ vùng cẳng chân dập nát, tụ máu. Chân trái: mặt mu bàn chân có nhiều vết sây sát da, tụ máu, không liên tục. Hệ thống xương hai tay, hai chân không phát hiện gãy vỡ.
Khám trong: giải phẫu vùng ngực: tụ máu diện rộng hệ thống cân cơ vùng ngực hai bên. Gãy phức tạp hệ thống khung xương lồng ngực: hai xương đòn gãy phức tạp thành nhiều đoạn, gãy rời 1/2 giữa thân xương ức, gãy nhiều vị trí nhiều xương sườn hai bên. Nhu mô phối hai bên dập nát, có nhiều mảnh nhu mô phổi dập nát rời khỏi cuống phổi. Dập đứt hoàn toàn đoạn lên cung động mạch chủ. Bao màng tim dập rách, tụ máu nhiều vị trí. Khoang ngực hai bên có 2000ml máu không đông. Lòng tử cung không có thai, còn dụng cụ tránh thai trong lòng tử cung.
Kết luận:
1. Các kết quả chính:
- - Tử thi Lê Thị H có nhiều vết mài trượt, sây sát da, tụ máu tại vùng mặt, ngực bụng và tay chân.
- - Cổ mất vững, xương đốt sống vùng cổ lỏng lẻo.
- - Gãy hở xương hàm dưới, ổ gãy xương tại vùng cằm tạo vết rách thủng da cơ, tụ máu, thông với khoang miệng.
- - Vùng ngực bẹp dập biến dạng; gãy phức tạp hệ thống khung xương lồng ngực: hai xương đòn gãy phức tạp thành nhiều đoạn, gãy rời ½ giữa thân xương ức, gãy nhiều vị trí nhiều xương hàm hai bên.
- - Nhu mô phổi hai bên dập nát, có nhiều mảnh nhu mô phổi dập nát rời khỏi cuống phổi.
6
- - Dập đứt hoàn toàn đoạn lên cung động mạch chủ. Bao màng tim dập rách, tụ máu nhiều vị trí.
- - Khoang ngực hai bên có 2000ml máu không đông.
- - Dập nát hoàn toàn hệ thống cân cơ vùng cẳng chân phải.
2. Kết luận: Nguyên ngân chết của Lê Thị H: Đa chấn thương.
Về khám nghiệm phương tiện:
Khám xe mô tô biển kiểm soát: 35F8 - 5747: Nhãn hiệu ANGEL, loại xe nữ, màu xanh, số máy: 037007, số khung: 037007, phát hiện các dấu vết cụ thể như sau: gương chiếu hậu bên trái gáo gương bật rời khỏi xe, cần gương bị gập có chiều từ trái sang phải, từ trước về sau lệch chuẩn so với vị trí ban đầu 06cm. Ốp cao su bảo vệ chân gương có vết tì mài, trầy xước có chiều từ dưới lên trên, từ trái sang phải kích thước (6x2,5)cm. Đầu ngoài phía trước tay lái bên trái có vết sạt xước kim loại chiều từ trước về sau có kích thước (2x1)cm. Mỏm chắn bùn bánh trước có vết sạt xước bong tróc sơn có chiều từ dưới lên trên, từ trái sang phải trên diện kích thước (10x8)cm. Để chân phía trước bên trái cong vênh có chiều từ sau ra trước, từ trái qua phải, từ trên xuống dưới lệch chuẩn so với ban đầu 04cm. Mỏm đầu ngoài phía trên giá để chân phía trước bên trái rách cao su lộ kim loại bám dính dị vật màu trắng trên diện kích thước (2,5x3)cm. T1 kim loại bảo vệ lốc máy bên trái gãy rời khỏi xe. Giá để chân phía sau bên trái gập lệch chuẩn so với vị trí ban đầu 03cm có chiều từ trên xuống dưới từ sau ra trước; mỏm đầu phía trên có vết sạt xước kim loại, bám dính dị vật màu trắng trên diện kích thước (1x2,5)cm. Cụm đèn xi nhan và đèn báo hãm phía sau vỡ toàn bộ kính bảo vệ. Khung kim loại bảo vệ cụm đèn hãm, xi nhan phía sau bẹp méo có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải lệch chuẩn so với vị trí ban đầu 05cm. Chắn bùn phía sau gãy rời khỏi xe, biển kiểm soát cong vênh bẹp méo cạnh dưới tiếp xúc với mặt lăn bánh sau có chiều từ sau ra trước, lệch so với vị trí ban đầu 15cm. Vỏ nhựa bảo vệ phía sau bên phải nứt vỡ dài 15cm. Giá để chân phía trước cong vênh có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái lệch chuẩn so với vị trí ban đầu 05cm, đầu ngoài giá để chân cao su rách lộ lõi kim loại trên diện kích thước (6x4)cm. Mặt ngoài thanh kim loại bảo vệ yên xe có vết sạt xước kim loại bám dính dị vật màu đen trắng chiều từ dưới lên trên, từ phải sang trái trên diện kích thước (17x1,5)cm. Giảm xóc phía sau bên phải cong vênh có chiều từ sau ra trước lệch so với vị trí ban đầu 02cm. Bên trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì; Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe mô tô bị hư hỏng, không tiến hành kiểm tra kỹ thuật an toàn phương tiện.
Khám xe ô tô tải biển kiểm soát: 36H - 022.19: Nhãn hiệu DOTHANH; loại MIGHTY; số máy: D4DBHJ644359, số khung: RPPKB17BPHD000167; kích thước bao (dài 8,12m; kích thước thùng 6,42m; cao 2,69m; rộng 2,14m); kích thước bao thùng (262x90)cm, phát hiện các dấu vết cụ thể như sau: phần vỏ nhựa
7
phía trước bên phải đầu xe ô tô bẹp lõm có chiều từ trước về sau, trên diện kích thước (84x30x3)cm. Tâm điểm bẹp lõm cách mặt đất 125cm, cách mép dưới kính chắn gió phía trước 25cm. Kính bảo vệ đèn pha phía trước bên trái nứt vỡ góc dưới trên diện kích thước (26x14)cm, cụm đèn xi nhan phía trước bên trái bung bật khỏi xe. Vỏ nhựa bảo vệ ba đờ sốc bảo vệ đầu xe bẹp lún, nứt vỡ, lệch so với vị trí ban đầu 13cm. Nhựa ba đờ sốc vỡ ngang, cách mép dưới góc dưới bên phải đầu xe 125cm. Điểm tập trung nứt vỡ nhựa phía bên trái đầu xe trên diện kích thước (50x13)cm. T1 kim loại cố định vỏ nhựa ba đờ sốc bẹp lún, cong vênh có chiều từ trước ra sau, lệch so với vị trí ban đầu 02cm. Đầu ngoài phía dưới vỏ nhựa ba đờ sốc bên phải điểm cuối cách mặt đất 30cm. Cần gạt mưa phía trước bên trái gãy rời khỏi xe. Kính chắn gió phía trước bên trái nứt trên diện kích thước (15x30)cm. Thùng xe phủ bạt sơn màu xanh, trên thùng có chở các đầu khúc gỗ tươi cắt đoạn dài khoảng 01m, đường kính khoảng 15cm; Kỹ thuật an toàn phương tiện: Hệ thống hãm phanh, đèn xi nhan, đèn pha, còi vẫn hoạt động; cánh cửa bên trái ca bin không mở được; trên xe không lắp camera hành trình.
Về thương tích của chị Trần Thị C: Chị C bị thương, vết thương sưng đau, bầm tím bàn tay phải; Khắp cơ thể có nhiều vết trầy xước. Không xếp tỷ lệ (Do không có trong Thông tư 22/2019/TT-BYT).
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 101/LLTgTHS-TTPY, ngày 29/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Thị C là 0,00%.
Tại Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-GV ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Đỗ Đình T ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Đỗ Đình T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Đình T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án; Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo T, cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo T trong thời hạn từ 12 (mười hai) đến 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo T phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn
8
tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn nhận tội. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện rõ: Bị cáo T có giấy phép lái xe ô tô hạng C đủ điều kiện theo quy định pháp luật được phép điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 36H-022.19. Khoảng 04 giờ ngày 30/7/2024 bị cáo T điều khiển xe ô tô ô tô tải biển kiểm soát 36H- 022.19 chở gỗ đi từ huyện T, tỉnh Thanh Hóa, lịch trình di chuyển qua huyện G, tỉnh Ninh Bình để ra quốc lộ A đi tỉnh Hưng Yên, khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo điều khiển xe đến ngã ba giao nhau giữa đường Đ với đường đi vào thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ và không giảm tốc đến mức cần thiết khi qua nơi ngã ba giao nhau, đã vi phạm khoản 3 Điều 5 Thông tư 31 của Bộ G; khoản 5 Điều 4; khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, xe ô tô bị cáo T điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 35F8 - 5747 do chị Trần Thị C, sinh năm 1970 điều khiển, chở phía sau là chị Lê Thị H, sinh năm 1980 (đều trú tại thôn V, xã G, huyện G), đi từ thôn T, xã G đến ngã ba giao nhau với đường đê tả sông H để rẽ trái đi Quốc lộ A, làm cho xe mô tô chị C điều khiển bị đổ, chị C bị thương, chị H bị đa chấn thương, tử vong tại hiện trường.
Điều 260 tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo Đỗ Đình T là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
9
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và đã bồi thường thiệt cho gia đình chị H số tiền 250.000.000đ và bồi thường cho chị C 30.000.000đ. Anh N đại diện hợp pháp cho chị H và chị C đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa hôm nay chị C và anh N đại diện hợp pháp cho chị H đề nghị Tòa án giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: bị cáo T có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có vi phạm phám luật gì.
[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người tốt đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ xung: xét thấy bị cáo T nghề nghiệp lái xe, do lơ là, chủ quan trong lúc điều khiển phương tiện tham gia giao thông không quan sát kỹ những người cùng tham gia giao thông. Hậu quả gây tai nạn chết người vì vậy cấm bị cáo T hành nghề lái xe với thời hạn 02 năm.
[6] Về các xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Đối với xe ô tô biển kiểm soát 36H - 022.19, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố B T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho anh Đ. Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác, là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 35F8 - 5747, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn N (chồng chị H). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho anh N. Anh N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì khác, là phù hợp qui định của pháp luật.
- - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...], do sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 15/11/2023 mang tên Đỗ Đình T là một trang tài liệu lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Do cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo T, nên khi hết thời hạn cấm hành nghề và bị cáo có yêu cầu thì Tòa án sẽ trả lại giấy phép lái xe nêu trên cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị H số tiền 250.000.000 đồng, bao gồm: tổn thất tinh thần, chi phí mai táng, sửa xe; bồi thường cho chị C số tiền 30.000.000 đồng, bao gồm:
10
chi phí điều trị tại bệnh viện, chi phí thuốc men, đi lại, ăn ở, sinh hoạt, tinh thần và những ngày công không đi làm được. Đại diện hợp pháp cho người bị hại đã chết (chị Lê Thị H) là anh N và chị C đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Nên về trách nhiệm dân sự trong vụ án này hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Đỗ Đình T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án ngày 26/02/2025. Giao bị cáo T cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X giám sát giáo dục bị cáo T.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Đỗ Đình T trong thời hạn 02(hai) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
11
2. Về án phí: bị cáo Đỗ Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo; Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Đình Tùng PT Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
