Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 24 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Hồng Văn

Bà Vũ Thị Nết

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên;

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Việt H, sinh năm 2001 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S và bà Nguyễn Thị Thúy H1; chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không có

    Nhân thân: Bản án số 24/2019/HS-ST ngày 08/5/2019 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đã được đương nhiên xoá án tích.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

  3. Nguyễn Thế U, sinh năm 2005 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  4. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Chu Thị G; chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không có

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.

* Người chứng kiến: Trần Văn L, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 03/10/2024, tại trước cửa nhà nghỉ T2 thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Thế U về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: T tại nền đường bê tông ở vị trí bắt giữ Uy 01 túi ni lon màu trắng được hàn kín, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý, được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT”. Thu giữ trong túi quần của U 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thế U số [...], 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị Thúy H1 số 131388, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus; tất cả được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT1”. Thu giữ của U 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda vison màu nâu đỏ biển kiểm soát 98B3-080.17; kiểm tra xe mô tô thu giữ 01 vật dạng giống điện thoại màu đen, trên mặt vỏ có ký hiệu H999; kiểm tra bên trong khay pin của vật trên có 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, bên trong chứa 07 túi ni lon màu trắng (trong đó 01 túi có rãnh khoá bằng nhựa viền màu đỏ bên trong đựng 04 viên nén hình tròn màu đỏ; 05 túi chứa tinh thể màu trắng; 01 túi chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng đều nghi là ma tuý); tất cả các túi ni lon đựng chất nghi là ma tuý được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu “QT2".

Cùng ngày 03/10/2024, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định vật chứng nghi là chất ma tuý.

Tại bản Kết luận giám định số 2169/KL-KTHS ngày 10/10/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi ni lon màu trắng được hàn kín là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,150 gam.
  • - Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT2” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa:
    • + 04 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 túi ni lon màu trắng, 01 đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ đều là ma tuý, loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,366 gam.
    • + Chất tinh thể màu trắng đựng trong 05 túi ni lon màu trắng được hàn kín đều là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,866 gam.
    • + Chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng đỏ, đựng trong 01 túi ni lon màu trắng được hàn kín đều là ma tuý loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,185 gam.

Ngày 04/10/2024, Lê Việt H đến Công an huyện L đầu thú, H khai số ma tuý thu giữ của Nguyễn Thế U là do H cung cấp cho U; H giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng trong trạng thái tắt nguồn.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thế U và Lê Việt H nhưng không thu giữ được gì.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận như sau:

- Nguyễn Thế U khai: Sáng ngày 03/10/2024 có một người tên là L1 gọi điện cho U hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá, U gọi điện cho Lê Việt H hỏi có còn ma túy không thì H trả lời còn. U đi bộ đến nơi H ở thì được H đưa cho số ma túy trên để đem đi bán, khi nào bán được thì đưa tiền cho H. H còn nhờ U đem xe mô tô nhãn hiệu Honda vison màu nâu đỏ biển kiểm soát 98B3-080.17 đi cầm cắm. Sau đó U điều khiển xe mô tô đem toàn bộ số ma tuý mà H đưa cho đi đến điểm hẹn để bán ma túy cho L1 nhưng chưa gặp được L1 thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Lê Việt H khai: Số ma tuý trên H mua của một người tên là Vũ Văn H2 nhà ở Cầu C thuộc thôn T, xã T, huyện L. Về việc cung cấp ma tuý cho Nguyễn Thế U, H khai báo không thống nhất, có lúc H khai toàn bộ số ma tuý thu giữ của U là do H cho U để sử dụng; lần khác H khai đưa ma tuý cho U và bảo U đem bán, được bao nhiêu cuối ngày đưa tiền cho H, sau đó H lại khai bán số ma tuý trên cho U với giá 1.000.000 đồng nhưng U chưa đưa tiền cho H.

Theo lời khai của Lê Việt H, Cơ quan điều tra đã làm việc với người tên là Vũ Văn H2, sinh năm 1995, cư trú tại thôn T, xã T, huyện L nhưng H2 xác định không quen biết H, không bán ma tuý cho H. Cơ quan điều tra cho H nhận dạng ảnh để xác định người đã bán ma tuý cho H (trong đó có ảnh của H2) nhưng H cũng không xác định được ai là người đã bán ma tuý cho H. Vì vậy Cơ quan điều tra kết luận không có căn cứ xử lý đối với Vũ Văn H2.

Sau khi bắt giữ Nguyễn Thế U và Lê Việt H, Cơ quan điều tra đã kiểm tra việc sử dụng ma tuý đối với U và H, kết quả tét nhanh mẫu nước tiểu cả U và H đều dương tính với ma tuý Methamphetamine. Sau đó Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với U và H về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Thế U khai: Sáng ngày 03/10/2024 Lê Việt H gọi điện cho U bảo U đi cầm cắm xe máy hộ, U hỏi H có ma túy không thì H trả lời có, sau đó U và H có nhắn tin Zalo cho nhau trao đổi về ma túy. Khi U đến nơi ở của H thì H bảo ma túy để ở bàn, bán được bao nhiêu đến cuối ngày đưa tiền cho H. Uy lấy ma túy ở bàn cất giấu vào trong khay pin của chiếc điện thoại màu đen (điện thoại bị hỏng để ở bàn) rồi đem đi bán cho một người tên là L1 nhưng chưa gặp được L1 thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Bị cáo Lê Việt H khai: H xác nhận giữa H và U có trao đổi với nhau như U khai trên là đúng. H thừa nhận toàn bộ số ma túy thu giữ của U khi bắt quả tang có nguồn gốc là của H; khi U nhận ma túy H có nói bán được bao nhiêu đến cuối ngày đưa tiền, một triệu cũng được.

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

  • + Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Việt H từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế U từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Miễn phạt bổ sung.
  • + Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 02 phong bì thư được niêm phong ký hiệu “QT” và “QT2” bên trong đựng ma túy còn lại sau giám định để tiêu hủy. Tịch thu của Nguyễn Thế U 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, của Lê Việt H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max để sung vào công quỹ Nhà nước. Tịch thu của Lê Việt H 01 điện thoại màu đen ký hiệu H999 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s (bị tắt nguồn) để tiêu hủy. Trả lại Nguyễn Thế U 01 thẻ căn cước công dân.
  • + Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U trình bày: Các bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Nói lời sau cùng các bị cáo nhận thức hành vi mua bán chất ma túy của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
  2. [2] Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Việt H mua ma túy của người khác với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 03/10/2024 các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U đã sử dụng điện thoại di động để trao đổi với nhau về việc U nhận ma túy của H để đem bán. Sau đó U đi đến nơi ở của H tại tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; tại đây U đã nhận ma túy của H tổng số 08 túi ni lon đựng ma túy, U cất giấu ma túy vào khay đựng pin của chiếc điện thoại hỏng màu đen rồi đem đi bán cho người khác, U đã liên lạc bằng điện thoại với một đối tượng không quen biết để bán ma túy nhưng chưa bán được thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn chất ma túy; kết quả giám định số ma túy thu giữ của Uy có tổng khối lượng 1,567 gam, loại Methamphetamine.
  3. [3] Hành vi trên của các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U về tội danh trên theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  4. [4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng các bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập và dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ các bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân mình và người khác. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
  5. [5] Xem xét vai trò của các bị cáo và các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Lê Việt H là người chuẩn bị ma túy rồi chuyển giao cho bị cáo Nguyễn Thế U để đem đi bán cho người khác. Như vậy các bị cáo đã cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ hoặc bàn bạc, phân công nhiệm vụ tỉ mỉ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm có tính chất giản đơn; trong đó bị cáo H là người giữ vai trò chính nên hình phạt giành cho H phải cao hơn so với U.
  6. Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo Lê Việt H không bị bắt quả tang nhưng đã ra đầu thú, H có ông nội là cụ Lê Văn T1 là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Nguyễn Thế U có ông ngoại là cụ Chu Văn N1 là Liệt sĩ, bố đẻ là Nguyễn Văn N có nhiều thành tích trong công tác bảo vệ an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có

    Nhân thân: Bị cáo Lê Việt H có nhân thân xấu, năm 2019 bị cáo đã bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội.

    Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng và nhân thân của các bị cáo. Hình phạt giành cho bị cáo H ở mức trung bình thấp, bị cáo U ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với vai trò, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

  7. [6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy mục đích phạm tội của các bị cáo là thu lợi bất chính; căn cứ vào điều kiện kinh tế gia đình của các bị cáo, cần thiết phải phạt tiền bị cáo Lê Việt H bằng mức khởi điểm nêu trên để sung vào công quỹ Nhà nước; bị cáo Nguyễn Thế U gia đình thuộc diện khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
  8. [7] Về xử lý vật chứng:
  9. Toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định và các vỏ túi ni lon đựng ma túy, được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT” và “QT2” cần phải tịch thu để tiêu hủy.

    Khi bắt quả tang có thu giữ của Nguyễn Thế U 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda vison màu nâu đỏ biển kiểm soát 98B3-080.17; 01 điện thoại màu đen ký hiệu H999; 01 thẻ căn cước công dân. Lê Việt H ra đầu thú có giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng. Xét thấy:

    • - Nguyễn Thế U đã sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus để nhắn tin zalo trao đổi với Lê Việt H để nhận ma túy đem bán; Lê Việt H sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs Max màu xám để liên lạc mua ma túy, chuyển giao ma túy cho U. Vì vậy cần phải tịch thu 02 chiếc điện thoại trên để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Chiếc điện thoại màu đen ký hiệu H999 dùng để đựng ma túy là của Lê Việt H, tại phiên tòa H xác định chiếc điện thoại này đã hỏng, không còn giá trị sử dụng. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng (trong trạng thái tắt nguồn) do Lê Việt H giao nộp không liên quan đến tội phạm; H xác định chiếc điện thoại này đã hỏng, không còn giá trị sử dụng nên H không có nguyện vọng nhận lại. Vì cả 02 chiếc điện thoại trên đều hư hỏng, không còn giá trị nên cần tịch thu để tiêu hủy.
    • - Căn cước công dân là giấy tờ cá nhân của Nguyễn Thế U nên trả lại cho U.
    • - Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda vison màu nâu đỏ biển kiểm soát 98B3-080.17. Quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị Thúy H1 (mẹ đẻ Lê Việt H), do bà H1 không có lỗi trong việc H giao xe cho U đi bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại xe mô tô trên cho bà H1 là đúng quy định.
  10. [8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
    1. Xử phạt bị cáo Lê Việt H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/10/2024).
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế U 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 03/10/2024).
  2. Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự:
  3. Phạt tiền bị cáo Lê Việt H, mức phạt 5.000.000 đ (Năm triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

  4. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định và các vỏ túi ni lon đựng ma túy, được niêm phong trong 02 phong bì thư ký hiệu “QT” và “QT2” có đóng dấu của cơ quan giám định để tiêu huỷ.
    • - Tịch thu của Nguyễn Thế U 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng; của Lê Việt H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max màu xám để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Tịch thu của Lê Việt H 01 điện thoại di động màu đen có ký hiệu H999 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng (trong trạng thái tắt nguồn) để tiêu hủy.
    • - Trả lại Nguyễn Thế U 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thế U.
    • Những vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

  5. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
  6. Các bị cáo Lê Việt H, Nguyễn Thế U mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhân:

  • - Bị cáo
  • - VKSND huyện Lục Nam
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - TAND tỉnh Bắc Giang
  • - CQCSĐT Công an huyện Lục Nam
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Việt H mua ma túy của người khác, H đưa cho Nguyễn Thế U để bán cho người khác, khối lượng ma túy thu giữ được 1,567 gam loại Methamphetamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger