Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 20 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Mạnh.

Thẩm phán: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Chúc;

Ông Nguyễn Quang Bằng;

Ông Đỗ Quang Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đường Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Kiều Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Đình H, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1984 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Nguyên Trưởng phòng G - Ngân hàng V2 chi nhánh B; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Là Đảng viên Đ1 đã bị UBKT Tỉnh ủy V3 khai trừ Đảng; con ông Vũ Đình H1 và bà Trần Thị S; có vợ là Trần Thị L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2023, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Ông Hà Trọng T – Luật sư Văn phòng L2 tỉnh Vĩnh Phúc, đoàn Luật sư tỉnh V; địa chỉ: Số C đường N, Phường L, Thành phố V, Tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
  2. Bà Lê Thị H2 – Luật sư công ty L3, đoàn Luật sư tỉnh V; địa chỉ: Số D đường L, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Những người bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1977; Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
  2. Anh Nguyễn Thanh H3, sinh năm 1991; Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
  3. Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
  4. Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn K, xã A, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2021, Vũ Đình H làm Trưởng phòng G - Ngân hàng V2 chi nhánh B, H có mua bán cây L1 đột biến. Thời điểm mua vào thì giá L1 rất cao nên H đã vay tiền của rất nhiều người để đầu tư mua L1, đến thời điểm bán thì L1 không có giá trị nữa nên không bán được, do vậy H không có tiền để trả cho những người Hài đã vay. Để có tiền trả nợ, H này sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác để trả nợ, cụ thể như sau:

  1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Nguyễn Văn C:

    Năm 2021, thông qua việc làm hồ sơ vay vốn, ông Nguyễn Văn C quen biết với Vũ Đình H (thời điểm đó H đang là Trưởng Phòng G - Chi nhánh B). Sau đó có một số lần H hỏi vay tiền của ông C để làm đáo hạn nợ ngân hàng cho khách hàng, mỗi lần vay khoảng 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, các lần cho H vay tiền ông C không yêu cầu H viết giấy tờ hay thế chấp tài sản gì và sau đó H đã trả lại tiền cho ông C đúng như cam kết. Do cần tiền để trả nợ nên ngày 21/3/2022, H đã gọi điện cho ông C hỏi vay số tiền 3.000.000.000 đồng, cho rằng H vay tiền đề làm đáo hạn nợ Ngân hàng. Do tin tưởng H cho khách vay như những lần trước nên ông C đồng ý cho H vay tiền, hai bên thỏa thuận lãi suất là 1.000đồng/1.000.000đồng/1 ngày. Trong hai ngày 21 và 22/3/2022, ông C đã sử dụng tài khoản số 42510001871368 - Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) của ông C chuyển 02 lần với tổng số tiền 3.000.000.000 đồng(trong đó: Ngày 21/3/2022 chuyển 2.000.000.000 đồng; ngày 22/3/2022 chuyển 1.000.000.000 đồng) đến tài khoản số 42510001732870 - Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) của H. Sau khi nhận được số tiền trên, cộng với số tiền có trong tài khoản, H đã chuyển tổng số tiền 3.711.800.000 đồng trả nợ cho những người sau: Chuyển 204.000.000 đồng đến tài khoản số 8919091983 - Ngân hàng TMCP Q (MB) của anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1983, trú tại xã N, thành phố P; chuyển 38.800.000 đồng đến tài khoản số 2807222208888 - Ngân hàng N2 (A) của anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985, trú tại xã V, huyện T; chuyển 13.000.000 đồng đến tài khoản số 4251200015671 - Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) của anh Lê Duy V1, sinh năm 1990, trú tại xã V, huyện V; chuyển 60.000.000 đồng đến tài khoản số 2807205190160 - Ngân hàng N2 (A) của chị Vũ Thị D, sinh năm 1983, trú tại xã V, huyện T; chuyển 208.300.000 đồng đến tài khoản số 28032050722868 - Ngân hàng N2 (A) của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974, trú tại xã T, huyện Y; chuyển 3.000.000.000 đồng đến tài khoản số 42510005976999 - Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) của anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1976, trú tại xã H, huyện T; chuyển 110.000.000 đồng đến tài khoản số [...] - Ngân hàng TMCP C2 (G) của chị Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1987, trú tại phường L, thành phố V; chuyển 18.000.000 đồng đến tài khoản số 3550126661976 - Ngân hàng TMCP Q (MB) của anh Nguyễn Văn N1; chuyển 60.000.000 đồng đến tài khoản số [...] - Ngân hàng TMCP A (A1) của anh Ngô Văn X, sinh năm 1971 trú tại xã T, huyện Y. Đến ngày 22/4/2022, H3 chuyển trả cho ông C số tiền 142.000.000 đồng, đến ngày 01/6/2022, H chuyển trả cho ông C số tiền 135.000.000 đồng. Sau đó H không có tiền để trả cho ông C nên đã viện ra rất nhiều lý do để trì hoãn việc trả tiền cho ông C. Do vậy ông C đã yêu cầu H viết giấy vay tiền cam kết đến ngày 21/6/2022 phải trả tiền nhưng do H3 không có tiền để trả, nên đến ngày 29/7/2023 ông C đã gửi đơn tố cáo H về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Nguyễn Thanh H3:

    Năm 2021, thông qua việc làm hồ sơ vay vốn tại Phòng G - Chi nhánh B, anh Nguyễn Thanh H3 quen với Vũ Đình H4 (thời điểm đó H4 làm Trưởng phòng G - Chi nhánh B). Sau đó, H4 có một số lần vay tiền của anh H3 để làm đáo hạn nợ ngân hàng cho khách hàng, mỗi lần vay khoảng từ 500.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng, các lần cho H4 vay tiền anh H3 đều không yêu cầu H4 viết giấy tờ hay thế chấp tài sản gì và sau đó H4 đã trả lại tiền cho anh H3 đúng như cam kết. Do cần tiền để trả nợ nên ngày 27/4/2022, H4 gọi điện hỏi vay anh H3 số tiền 500.000.000 đồng, cho rằng H4 vay tiền để làm đáo hạn nợ Ngân hàng cho khách hàng như những lần trước nên anh H3 đồng ý cho H4 vay tiền, hai bên thỏa thuận lãi suất là 1.500đồng/1.000.000đồng/1 ngày. Cùng ngày, anh H3 đã chuyển số tiền 500.000.000đồngđến tài khoản số 42510001732870 - Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) của H4. Sau khi nhận được số tiền trên, H4 chuyển để trả nợ cho những người sau: Chuyển 50.000.000 đồng đến tài khoản số 2807205190160 Ngân hàng N2 trả cho chị Vũ Thị D, sinh năm 1982, trú tại xã V, huyện T; chuyển 390.000.000 đồng đến tài khoản số 19037406614011 - Ngân hàng TMCP K trả cho anh Trần Văn C1, sinh năm 1991, trú tại xã C, huyện V. Số tiền còn lại 60.000.000 đồng, H4 sử dụng chỉ tiêu cá nhân hết. Quá thời hạn không thấy H4 trả tiền nên anh H3 nhiều lần yêu cầu H3 trả tiền thì đến ngày 03/6/2022, H4 chuyển trả anh H3 số tiền 200.000.000 đồng (số tiền này Hài vay mượn của người thân trong gia đình H4, cụ thể vay mượn của ai H4 không nhớ). Số tiền 300.000.000 đồng còn lại do H4 không có tiền để trả cho anh H3, nên ngày 19/7/2023 anh H3 đã làm đơn tố cáo H4 về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Hoàng Văn V:

    Năm 2019, ông Hoàng Văn V ký hợp đồng vay vốn tại Phòng G - Chi nhánh B với hạn mức vay là 6 tỷ đồng và đã được ngân hàng giải ngân số tiền hơn 4 tỷ đồng để sử dụng vào mục đích kinh doanh, số tiền 1.700.000.000 đồng ông V chưa đề nghị ngân hàng giải ngân. Đến đầu tháng 6/2022 do cần tiền để kinh doanh thời trang (quần, áo) ông V làm hồ sơ đề nghị Phòng G - Chi nhánh B giải ngân cho ông V vay tiếp số tiền còn lại trong hạn mức là 1.700.000.000 đồng, trực tiếp Hài khi đó là Trưởng phòng giao dịch thẩm định và duyệt hồ sơ đề nghị cho ông V. Đến ngày 16/6/2022, Phòng G - Chi nhánh B giải ngân cho ông V vay số tiền 1.700.000.000 đồng vào tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP C2 của anh Doãn Văn T3, sinh năm 1974, trú tại xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (là em đồng hao với ông V) do ông V chỉ định. Do cần tiền để trả nợ nên khi biết ông V được ngân hàng giải ngân số tiền 1.700.000.000 đồng, H4 đã gọi điện hỏi vay ông V số tiền 1.500.000.000 đồng, H3 nói dối là để làm đáo hạn nợ ngân hàng cho khách trong thời gian từ 3 đến 4 ngày rồi trả. Vì H4 là Trưởng phòng giao dịch V nên ông V tin là H4 nói thật nên đã đồng ý cho H4 vay tiền mà không yêu cầu H4 phải thế chấp tài sản hay viết giấy tờ biên nhận gì. Sau đó H4 gửi tin nhắn nội dung sau: “A chuyển sang tài khoản này cho e 3550160898888 Nguyễn thành Đạt Ngân hàng Q A chuyển vào đấy cho e 1,5 tỷ Hôm nay ngày 16/6/2022 e Vũ Đình H vay của a V 1,5 tỷ đồng. Đã nhận đủ qua tài khoản của Nguyễn Thành Đ”. Nội dung tin nhắn trên có nghĩa là H gửi số tài khoản Ngân hàng Q đứng tên Nguyễn Thành Đ cho ông V để ông V chuyển số tiền 1.500.000.000 đồngcho H (anh Đ có mối quan hệ bạn bè với H nên H nhờ anh Đ nhận hộ tiền). Cùng ngày ông V đã nhờ anh Doãn Văn T3 chuyển số tiền 1.500.000.000 đồngtừ tài khoản số [...]-Ngân hàng TMCP C2 của anh T3 đến tài khoản số 42510001772803 - Ngân hàng TMCP Đ2 của anh Doãn Văn T3, sau đó từ tài khoản này anh T3 tiếp tục chuyển số tiền 1.500.000.000 đồngđến tài khoản số 3550160898888 - Ngân hàng TMCP Đ2 của anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố B, phường L, thành phố V. Sau khi nhận được số tiền trên, H bảo anh Đ chuyển đến tài khoản số [...] - Ngân hàng TMCP C2 của ông Phạm Xuân H5, sinh năm 1969, trú tại thôn V, xã V, huyện T để H3 trả nợ cho ông H5.

    Quá thời hạn nhưng H không trả tiền như đã thỏa thuận, ông V nhiều lần yêu cầu Hài trả nhưng H viện ra nhiều lý do để trì hoãn việc trả tiền nên ông V đã yêu cầu H viết giấy vay tiền, nội dung ngày 16/6/2022 H3 vay ông V số tiền 1.500.000.000 đồng, cam kết đến ngày 22/6/2022 H trả tiền. Sau một thời gian H vẫn không trả tiền nên ngày 14/7/2023 ông V đã gửi đơn tố cáo H về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

  4. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông Vũ Văn T1:

    Năm 2020, ông Vũ Văn T1 làm hồ sơ vay vốn tại Phòng G - Chi nhánh B với hạn mức vay là 04 tỷ đồng. Đến đầu tháng 6/2022, do cần tiền để kinh doanh gạch ốp lát, thiết bị vệ sinh nên ông T1 làm hồ sơ đề nghị Phòng G giải ngân cho ông T1 vay 500.000.000 đồng. Hài (khi đó đang làm Trưởng phòng giao dịch V) là người thẩm định, duyệt hồ sơ cho ông T1 vay số tiền 500.000.000 đồng. Ngày 23/6/2022, ông T1 được ngân hàng giải ngân số tiền 500.000.000 đồngvào tài khoản số 6111567899999 mở tại Ngân hàng TMCP Q của ông T1 và khi đó trong tài khoản của ông T1 có tổng số tiền khoảng 700.000.000 đồng. Do cần tiền để trả nợ và biết trong tài khoản của ông T1 đang có số tiền khoảng 700.000.000 đồngnên Hài đã gọi điện hỏi vay ông T1 số tiền 600.000.000 đồng, H nói dối là để làm đáo hạn nợ Ngân hàng cho khách hàng, trong thời gian 3 ngày sẽ trả lại tiền cho ông T1. Do H đang làm T4 phòng giao dịch nên ông T1 tin là H sử dụng tiền vay để làm đáo hạn Ngân hàng như H nói nên cùng ngày, ông T1 đã chuyển số tiền 600.000.000 đồng đến tài khoản số 0971915888 mở tại Ngân hàng TMCP Q của Hài. Sau khi nhận được số tiền trên, H không sử dụng để làm đáo hạn nợ Ngân hàng cho khách như đã thỏa thuận với ông T1 mà chuyển 512.000.000 đồngđến tài khoản số 42510005976999 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 của anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1976, trú tại xã H, huyện T để trả nợ cho anh N1, số tiền còn lại H3 sử dụng chỉ tiêu cá nhân hết. Quá thời hạn không thấy H trả tiền, nhiều lần ông T1 yều cầu trả tiền nhưng H đều viện ra nhiều lý do để trì hoãn việc trả tiền, nên ông T1 đã yêu cầu H viết giấy vay tiền, nội dung: ngày 23/6/2022, Hài vay của ông T1 số tiền 600.000.000 đồng, cam kết đến ngày 30/7/2022 sẽ trả. Thời gian sau H3 vẫn không trả tiền nên ngày 11/9/2023, ông T1 có đơn tố cáo H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngày 19/9/2023, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus của ông Hoàng Văn V để phục vụ công tác giám định. Kết luận giám định xác định có nội dung tin nhắn trao đổi về việc vay tiền giữa ông V và Vũ Đình H. Sau khi có kết luận giám định, ngày 18/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông V chiếc điện thoại trên.

Ngày 19/9/2023, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhân hiệu iPhone 13 Pro Max của ông Nguyễn Văn C để phục vụ công tác giám định. Kết luận giám định xác định có nội dung tin nhắn trao đổi về việc vay tiền giữa ông C và Vũ Đình H. Sau khi có kết luận giám định, ngày 15/12/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại trên cho ông C.

* Về Trách nhiệm dân sự:

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tài sản của Vũ Đình H, hiện H không có tài sản gì.

Ông Nguyễn Văn C yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 2.723.000.000 đồng; anh Nguyễn Thanh H3 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 300.000.000 đồng; ông Hoàng Văn V yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 1.500.000.000 đồng, ông Vũ Văn T1 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền 600.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-P1 ngày 10 tháng 12 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo Vũ Đình H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình H khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình H 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 21/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H phải trả cho các bị hại: ông Nguyễn Văn C số tiền 2.723.000.000đồng; anh Nguyễn Thanh H3 số tiền 300.000.000đồng; ông Hoàng Văn V số tiền 1.500.000.000đồng; ông Vũ Văn T1 số tiền 600.000.000đồng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Luật sư H2 bào chữa cho bị cáo H thống nhất tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo có bố mẹ già, đang phải nuôi hai con nhỏ; trong quá trình công tác nhiều năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở; được tặng nhiều giấy khen, để từ đó xử bị cáo với mức án 13 năm tù.

Luật sư T bào chữa cho bị cáo H đề nghị Viện kiểm sát rút truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản để truy tố bị cáo về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; thống nhất các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo để xử phạt mức hình phạt nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố vì bị cáo H đang nợ nhiều, kinh doanh thua lỗ; khi vay tiền đã có mục đích chiếm đoạt; sau khi vay được tiền đã trả cho người khác chứ không thực hiện đáo hạn như bị cáo nói với các bị hại và hiện không có khoản tiền nào để trả cho bị hại.

Những người bị hại đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường số tiền chiếm đoạt và xử phạt bị cáo theo quy định (riêng ông C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nội dung vụ án thể hiện: Do làm ăn thua lỗ, để có tiền trả nợ cho những người khác, lợi dụng bản thân là Trưởng phòng G - Ngân hàng V2 Chi nhánh B, Vũ Đình H đã đưa ra thông tin gian dối là vay tiền để làm đáo hạn nợ Ngân hàng cho khách hàng, tuy nhiên ngay sau khi nhận được tiền của các bị hại, H không sử dụng để làm đáo hạn nợ Ngân hàng như đã cam kết mà chiếm đoạt để trả nợ cho người khác. Như vậy, bị cáo H đang vay nợ nhiều người, không có tiền trả nợ; với mục đích từ trước về việc chiếm đoạt tài sản của người khác để trả nợ, không dùng vào việc đáo hạn ngân hàng và không có khoản tiền nào để trả cho bị hại, nên hành vi đó đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, quan điểm của Luật sư T đề nghị xử lý H về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là không có căn cứ, không được chấp nhận. Với thủ đoạn như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 3/2022 đến tháng 6/2022, Vũ Đình H6 đã chiếm đoạt tổng số tiền là 5.123.000.000 đồng của các bị hại, trong đó: chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn C số tiền 2.723.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Nguyễn Thanh H3 số tiền 300.000.000 đồng; chiếm đoạt của anh Hoàng Văn V số tiền 1.500.000.000 đồng và chiếm đoạt của anh Vũ Văn T1 số tiền 600.000.000 đồng.

Hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tổng số tiền 5.123.000.000 đồng của Vũ Đình H như trên đã phạm vào tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a. Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên”

[3] Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó cần phải xử phạt nghiêm khắc.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Trước khi phạm tội, bị cáo H là người có nhân thân tốt; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; trong quá trình công tác, bị cáo được tặng nhiều giấy khen và nhiều năm liền được công nhận danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại (anh C) có đơn và tại phiên tòa đều đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc với hình phạt tù có thời hạn như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công việc, thu nhập cũng như không có tài sản nào khác nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Đối với ông Nguyễn Văn C yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 2.723.000.000 đồng; anh Nguyễn Thanh H3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 300.000.000 đồng; ông Hoàng Văn V yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 1.500.000.000 đồng; ông Vũ Văn T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 600.000.000 đồng là phù hợp. Cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại theo quy định.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa là có cơ sở cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đình H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 21/11/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 589, Điều 357 và Điều 468 Bộ Luật dân sự.
    • - Buộc bị cáo Vũ Đình H phải bồi thường cho các bị hại, cụ thể: cho ông Nguyễn Văn C số tiền 2.723.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm hai mươi ba triệu đồng); cho anh Nguyễn Thanh H3 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); cho ông Hoàng Văn V số tiền 1.500.000.000đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) và bồi thường cho ông Vũ Văn T1 số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày ông Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Thanh H3, ông Hoàng Văn V, ông Vũ Văn T1 có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên, nếu bị cáo Vũ Đình H không trả được thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì bị cáo còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Đình H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 113.123.000đồng (Một trăm mười ba triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong án hình sự.

Bị cáo và các bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Vũ Văn Mạnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Phùng Đình Chúc Nguyễn Quang Bằng Đỗ Thanh Phương

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQĐT - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa HS, HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Mạnh

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội điểm a khoản 4 điều 174
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger