TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 13 tháng 02 năm 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Lê Châu Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 13/12/2024, các Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 18/TB-TA ngày 23/12/2024, số 22/TB-TA ngày 26/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày13/01/2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 17/01/2025, đối với các bị cáo:
Phùng Thị Cẩm N, sinh năm 1998 tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Phùng Văn H và bà Nguyễn Thị Thanh T; chồng là Nguyễn Bảo T1 và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-7-2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C; (có mặt).
Nguyễn Bảo T1, sinh năm 1995 tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Diệu T2; vợ là Phùng Thị Cẩm N và có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lý Thị H2, sinh năm 1958; nơi cư trú: số B, tổ H, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Ông Trần Thái D, sinh năm 1950; nơi cư trú: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng: Phạm Thị L, Tuyết Nguyên D1 và Huỳnh Thị Kim B; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 16-7-2024, tại khu vực tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, lực lượng Công an phường N phát hiện, bắt quả tang Phùng Thị Cẩm N đang chụp hình các tờ phơi đề lẻ bán được trong ngày 16-7-2024 thông qua tin nhắn Zalo tên “Hello Tom” của N gửi qua Zalo tên “Trung Lỳ” của Nguyễn Bảo T1 (chồng N) để tổng hợp vào phơi đề tổng; thu giữ 01 phơi đề lẻ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A03S, tiền Việt Nam 2.272.000 đồng, 01 cây viết mực xanh và 01 túi xách.
Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra phòng trọ số 9, nhà trọ Số D (nơi N và T1 thuê trọ) thuộc tổ F, khóm V, phường N phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Bảo T1 đang tổng hợp các con số lô, số đề N bán được trong ngày 16-7-2024 gồm các đài Bến Tre, Vũng Tàu và Bạc Liêu vào phơi đề tổng; thu giữ 02 phơi đề tổng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A03S, 02 cây viết mực xanh và mực đỏ.
Vật chứng thu giữ: 02 tờ phơi đề; 02 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A03S; tiền Việt Nam 2.272.000 đồng; 01 túi xách màu đen; 02 cây viết mực xanh; 01 cây viết mực đỏ.
Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 09-7-2024 cho đến ngày bị bắt (ngày 16-7-2024) Phùng Thị Cẩm N đã bán số lô, số đề liên tục mỗi ngày bằng hình thức bán trực tiếp hoặc thông qua tin nhắn Zalo tên “Hello Tom” của N cho nhiều người tham gia đánh bạc trên địa bàn phường N, thành phố C, sau đó N chụp hình giấy ghi bán số đề và tin nhắn các con số đề cùng số tiền cho Nguyễn Bảo T1, qua tài khoản Zalo tên “Trung Lỳ” để T1 tổng hợp vào phơi đề tổng và tính thắng thua trực tiếp với những người tham gia đánh bạc từ kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh miền N, miền T như: từ ngày 09-7-2024 đến ngày 16-7-2024 các đài Bạc Liêu, Bến Tre, Vũng Tàu, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang, Tây Ninh, Bình Thuận, Đà Nẵng, Vĩnh Long,...và đài miền B. Mỗi ngày bán số lô, số đề với số tiền từ 2.997.000 đồng đến 35.768.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc từ ngày 09-7-2024 đến ngày 16-7-2024 là 92.578.000 đồng (trong đó số tiền bán số lô, số đề 57.878.000 đồng, số tiền người chơi trúng 34.700.000 đồng). N, T1 hưởng lợi 17.541.000 đồng.
Trong ngày 16-7-2024, N ghi bán số lô, số đề cho Lý Thị H2 với số tiền 70.000 đồng, Huỳnh Thị K với số tiền 3.780.000 đồng và một số người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ) với tổng số tiền thể hiện trên phơi là 10.037.000 đồng. Trong lúc N đang chụp hình ảnh các tờ phơi đề gửi cho T1 thì bị lực lượng Công an phường N phát hiện bắt quả tang. Tỷ lệ thắng thua: đối với số A, B, lô 02 chữ số 1.000 đồng thắng 80.000 đồng; đối với số A, B, lô 03 chữ số 1.000 đồng thắng 800.000 đồng; số đá 1.000 đồng thắng 700.000 đồng. Hình thức thanh toán: sau khi có kết quả xổ số kiến thiết các đài miền N, miền T và miền B, N và những người tham gia đánh bạc thống nhất số tiền thắng, thua xong sẽ thanh toán trực tiếp trả tiền mặt.
Tại Kết luận giám định số 1101/KL-KTHS ngày 10-9-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, ghi nhận: tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 02 điện thoại di động (ký hiệu A1, A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong 01 đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo, kèm theo kết luận giám định: 01 đĩa DVD nhãn hiệu Risheng, có tổng dung lượng 1,95GB (Bút lục số: 104).
Tại Kết luận giám định số 1168/KL-KTHS ngày 13-9-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, ghi nhận: chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A1, A2, A3) so với chữ viết mang tên Phùng Thị Cẩm N trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M1) do cùng một người viết ra. Chữ viết trên 02 tài liệu cần giám định (ký hiệu: A2, A3), trừ các chữ viết nêu tại mục V.2 và mục V.3 so với chữ viết mang tên Nguyễn Bảo T1 trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu: M2) do cùng một người viết ra (Bút lục 100 - 101).
Tại Cáo trạng số: 118/CT-VKSCĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Phùng Thị Cẩm N và Nguyễn Bảo T1 cùng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Các bị cáo xác định có đi làm thuê (Nhung bán thịt heo, phụ giúp gia đình; T1 làm tại lò hạ thịt, chạy xe honda đầu) nhưng không đủ sống và lo cho các con nhỏ nên mới bán số đề để kiếm thêm thu nhập. T3 lợi từ việc bán số lô, số đề là 17.541.000 đồng và đã giao nộp Thi hành án dân sự thành phố C ngày 17/01/2025.Việc thu lợi để dùng vào sinh hoạt chung của gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, đã có lời khai trong giai đoạn điều tra phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phùng Thị Cẩm N từ 09 tháng đến 01 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Bảo T1 phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 80 triệu đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N do có hoàn cảnh kinh tết khó khăn. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A03S, tiền Việt Nam 2.272.000 đồng đã thu giữ (thu giữ của N là 2.202.000 đồng, của bà H2 là 70.000 đồng) và số tiền 17.541.000 đồng là tiền do phạm tội mà có; tịch thu tiêu hủy 01 túi xách màu đen, 02 cây viết mực xanh, 01 cây viết mực đỏ; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 02 tờ phơi đề.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, nói lời sau bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi 02 con còn nhỏ. Bị cáo T1 xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Từ ngày 09-7-2024 đến ngày 16-7-2024, thông qua mạng xã hội Zalo các bị cáo Phùng Thị Cẩm N và Nguyễn Bảo T1 đã nhiều lần có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền dưới hình thức ghi số lô, đề; cụ thể như sau:
- - Ngày 09-7-2024, Phùng Thị Cẩm N và Nguyễn Bảo T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 1.557.000 đồng, số tiền trúng thưởng 1.440.000 đồng. Tổng cộng là 2.997.000 đồng.
- - Ngày 10-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 16.298.000 đồng, số tiền trúng thưởng 19.470.000 đồng. Tổng cộng là 35.768.000 đồng.
- - Ngày 11-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 6.064.000 đồng, số tiền trúng thưởng 1.440.000 đồng. Tổng cộng là 7.504.000 đồng.
- - Ngày 12-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 4.465.000 đồng, số tiền trúng thưởng 1.120.000 đồng. Tổng cộng là 5.585.000 đồng.
- - Ngày 13-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 4.028.000 đồng, số tiền trúng thưởng 960.000 đồng. Tổng cộng là 4.988.000 đồng.
- - Ngày 14-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 8.657.000 đồng, số tiền trúng thưởng 2.270.000 đồng. Tổng cộng là 10.927.000 đồng.
- - Ngày 15-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 6.772.000 đồng, số tiền trúng thưởng 8.000.000 đồng. Tổng cộng là 14.772.000 đồng.
- - Ngày 16-7-2024, N và T1 đã có hành vi ghi bán số đề với số tiền nhận cược là 10.037.000 đồng nhưng chưa có kết quả xổ số thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, từ ngày 09-7-2024 đến ngày 16-7-2024, Phùng Thị Cẩm N và Nguyễn Bảo T1 đã có hành vi nhiều lần đánh bạc dưới hình thức ghi bán số lô, số đề được thắng thua bằng tiền với nhiều người với số tiền từ 2.997.000 đồng đến 35.768.000 đồng, trong đó có 06 lần số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc là 92.578.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Phùng Thị Cẩm N, Nguyễn Bảo T1 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, vai trò của các bị cáo trong vụ án thuộc đồng phạm giản đơn, các bị cáo là vợ chồng, cùng là người thực hành tội phạm, trong đó, bị cáo N là chủ đề, trực tiếp bán số lô, đề ăn thua với nhiều người, bị cáo T1 giúp sức tổng hợp số lô, đề cho bị cáo N; vì vậy, bị cáo N phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo T1. Trong vụ án này, các bị cáo N, T1 đều là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm với mục đích nhằm mục đích vụ lợi. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có 06 lần đánh bạc với số tiền trên 5.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng tặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; các bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo là vợ chồng và đang nuôi 02 con chưa thành niên, quá trình chuẩn bị xét xử các bị cáo đã giao nộp số tiền thu lợi bất chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo N là người trực tiếp bán số đề ăn thua với nhiều người, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ vụ lợi, xâm phạm trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ. Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Đồng thời, mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Đối với bị cáo T1 trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, lý lịch rõ ràng và có nơi cư trú ổn định; vai trò tham gia trong vụ án là đồng phạm giúp sức; bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong thời gian tại ngoại, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật và các quy định của địa phương, không phạm tội hoặc vi phạm nào khác và hiện đang chăm sóc 02 con chưa thành niên, bị cáo có khả năng tự cải tạo nen khong cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Mức phạt tiền mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo thuộc thành phần lao động, không nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đồng thời, bị cáo T1 đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 điện thoại đi động đã thu giữ của các bị cáo, quá trình điều tra và phiên tòa xác định đây là công cụ các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Đối với số tiền 2.272.000 đồng (thu giữ của bị cáo N 2.202.000 đồng, của bà H2 70.000 đồng) là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 17.541.000 đồng (bị cáo T1 giao nộp) là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Đối với 01 túi xách màu đen, 02 cây viết mực xanh, 01 cây viết mực đỏ là vật có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 02 tờ phơi đề đã thu giữ.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với Lý Thị H2, Trần Thái D tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi số lô, số đề được thua bằng tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có văn bản đề nghị xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với Huỳnh Thị K, người đàn ông tên T4 và những người mua số đề của Phùng Thị Cẩm N không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phùng Thị Cẩm N và Nguyễn Bảo T1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Phùng Thị Cẩm N 11 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17-7-2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T1 số tiền 60.000.000 đồng.
Căn cứ điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 02 phơi đề;
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A03S đã thu giữ của các bị cáo N và T1; tiền Việt Nam 2.272.000 đồng (thu giữ của bị cáo N); số tiền 17.541.000 đồng (do bị cáo T1 nộp).
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi xách màu đen, 02 cây viết mực xanh, 01 cây viết mực đỏ.
(Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; Biên lai thu tiền số 0002172 ngày 17/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Phùng Thị Cẩm N, Nguyễn Bảo T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Phùng Thị Cẩm Nhung, Nguyễn Bảo Trung - Đánh bạc
