|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tuân.
Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Duy Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chũ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chũ xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn đối với vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn S, sinh năm 1971. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Lương Văn V, sinh năm 1931 (đã chết); Mẹ đẻ: Phan Thị T, sinh năm 1937 (đã chết); Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 04; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1976; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 12/02/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại ở nơi cư trú (Có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Văn L, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
Địa chỉ: thôn C, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. - Anh Lăng Văn T1, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Địa chỉ: thôn C, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. - Ông Bùi Xuân N, sinh năm 1962 (Có mặt).
Địa chỉ: thôn L, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. - Ông Trần Văn B, sinh năm 1963 (Có mặt).
Địa chỉ: thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. - Chị Vũ Thị H, sinh năm 1976 (Có đơn xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
- Người chứng kiến: Anh Vũ Xuân T2, sinh năm 1976 (Có mặt).
Địa chỉ: thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 10 phút ngày 04/02/2025, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B bắt quả tang Lương Văn S, sinh năm 1971 trú tại thôn T, xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề tại gia đình Soạn cho các đối tượng Trương Văn L, sinh năm 1994 trú tại thôn C, xã K, thị xã C và Nguyễn Văn V1, sinh năm 1980 trú tại TDP K, phường H, thị xã C. Thu giữ của S số tiền 5.000.000 đồng, 01 quyển vở nhãn hiệu BTS NB00029, 01 bút bi màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI Y9 Prime màu xanh số THEI 862943048225948, 892643048261950 đã qua sử dụng; thu giữ của Trương Văn L 01 mảnh giấy (cáp đề) bên trên có ghi các chữ số và 100.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Văn V1 01 mảnh giấy (cáp đề) bên trên có ghi các chữ số. Quá trình làm việc, Lương Văn S giao nộp số tiền 3.100.000 đồng.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lương Văn S thu giữ trên tủ kính giáp phòng ngủ của Soạn: 02 tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi các chữ, số; 01 điện thoại OPPO có mặt lưng sau màu hồng, mặt trước bị vỡ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của chị Vũ Thị H (vợ S) số tiền 10.000.000 đồng; thu giữ của Lăng Văn T1, sinh năm 1976 trú tại thôn C, xã K, thị xã C (người đánh bạc với S) 01 mảnh giấy (cáp đề) bên trên có ghi các chữ số.
Kiểm tra điện thoại HUAWEI Y9 Prime và điện thoại OPPO đã thu giữ của Lương Văn S nhưng không có nội dung gì liên quan đến hành vi đánh bạc (ghi lô đê) của S.
Cơ quan điều tra trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Lương Văn S trong các tờ cáp đề, quyển sổ, tờ giấy đã thu giữ, kết quả:
Bản kết luận giám định số 262/KL-KTHS ngày 10/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Phòng K không kết luận đối với các chữ viết bị tẩy xóa, sửa chữa trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4- quyển vở nhãn hiệu BTS NB00029 thu giữ khi bắt quả tang). Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4- trừ các chữ viết bị tẩy xóa, sửa chữa) so với chữ viết của Lương Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) là do cùng một người viết ra”.
Bản kết luận giám định số 321/KL-KTHS, đề ngày 20/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2- 02 tờ giấy có dòng kẻ ngang ghi các chữ, số thu giữ khi khám xét) so với chữ viết của Lương Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M6) là do cùng một người viết ra”.
Quá trình điều tra, bị can Lương Văn S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân cùng các đối tượng như sau:
Lương Văn S quen biết từ trước với Lăng Văn T1, sinh năm 1976 trú tại thôn C, xã K, thị xã C; Phạm Kỳ Q, sinh năm 1974, trú tại thôn L, xã K, thị xã C; Bùi Xuân N, sinh năm 1962, trú tại thôn L, xã K, thị xã C và Trần Văn B, sinh năm 1963, trú tại thôn T, xã K, thị xã C. Gia đình S có mở cửa hàng bán tạp hoá tại nhà. Do muốn có thêm thu nhập, S nhận ghi số lô đề cho mọi người chơi rồi tự thanh toán tiền thắng thua. Ngày 04/02/2025, S bắt đầu ghi số lô đề cho người chơi (S nhận số lô đề và thanh toán thắng thua trực tiếp với mọi người).
Giữa S và người chơi quy ước thanh toán tiền mua bán số lô đề, tiền thắng thua của từng dạng như sau: Dạng đề (đặc biệt hoặc nhất to), đánh với 02 hoặc 03 số cuối của giải đặc biệt, nhất to, với tỷ lệ 01 ăn 70 lần đối với dạng đề 02 số và 01 ăn 400 lần với đạng đề đánh 03 số; Dạng lô, đánh với 02 số cuối của tất cả các giải với tỷ lệ 01 điểm (23.000 đồng) ăn 80.000 đồng; Dạng lô xiên 02 là đánh với 02 cặp số từ 00 đến 99 với tất cả 02 số cuối của các giải với tỷ lệ 01 ăn 10 lần. Các số lô đề này đều so với các giải của kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc được mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút hàng ngày làm căn cứ trả thưởng.
Khoảng 17 giờ ngày 04/02/2025, S đang ở nhà thì Trương Văn L, Nguyễn Văn V1 đến đặt vấn đề mua số lô đề, S đồng ý. Lượng đọc các số lô đề cần mua gồm: số lô 84, 52 mỗi số 50 điểm và số đề 52 là 100.000 đồng, tổng hết 2.400.000 đồng; Soạn ghi các sô lô đề này vào 01 quyển vở nhãn hiệu BTS rồi ghi các số lô đề L mua vào 01 mảnh giấy có dòng kẻ (tờ cáp đề con) đưa cho L giữ và nhận số tiền 2.500.000 đồng của L, S trả lại Lượng 100.000 đồng. Sau đó, V1 đọc các số lô đề cần mua gồm các số lô 56, 65 mỗi số 50 điểm và các số đề 44, 99, 49, 94 mỗi số 50.000 đồng, tổng hết 2.500.000 đồng; Soạn ghi các sô lô đề này vào 01 quyển vở nhãn hiệu BTS rồi ghi các số lô đề V1 mua vào 01 mảnh giấy có dòng kẻ (tờ cáp đề con) đưa cho V1 giữ và nhận số tiền 2.500.000 đồng của V1 thì bị Công an bắt quả tang.
Ngày 04/02/2025, S đã bán số lô đề cho Lăng Văn T1, Phạm Kỳ Q, Bùi Xuân N, Trần Văn B, cụ thể như sau:
- + Soạn bán các số đề cho Lăng Văn T1 gồm: số đề 24 giải đặc biệt 10.000 đồng; số đề 24 giải nhất to 40.000 đồng; số đề 20 thông cửa 10.000 đồng; đầu 2 thông cửa số 20 là 10.000 đồng, tổng số hết 270.000 đồng. Soan ghi các số đề vào quyển vở nhãn hiệu BTS, ghi vào tờ cáp con đưa cho T1 giữ và nhận của Thống 245.000 đồng.
- + Soạn bán số lô đề cho Phạm Kỳ Q gồm: số lô 35 là 10 điểm x 23.000đ/01 điểm, số đề ba càng 535 là 10.000 đồng, tổng số là 240.000 đồng. Soạn ghi các số lô đề vào quyển vở nhãn hiệu BTS để theo dõi; do Q bảo không lấy cáp đề nên S ghi chữ “Q” vào dưới số lô đề của Q để theo dõi trả thưởng. Q đã trả tiền ghi số lô đề cho S.
- + Soạn bán số đề ba càng 466 là 10.000 đồng cho Bùi Xuân N; do N bảo không lấy cáp đề nên S ghi chữ “Nghũ” vào dưới số đề của N để theo dõi trả thưởng. Ngũ đã trả tiền ghi số đề cho S.
- + Soạn bán số lô 23 là 05 điểm 23.000đ/01 điểm = 115.000 đồng cho Trần Văn B. Soạn ghi số lô Ba mua vào quyển vở nhãn hiệu BTS để theo dõi và ghi ra tờ cáp con đưa cho Ba giữ. Bà đã trả tiền ghi số lô cho S.
Ngoài ra, S còn bán số lô đề cho nhiều người không quen biết, không rõ tên tuổi địa chỉ; các số lô đề bán cho người chơi thì S đều tổng hợp, ghi vào quyên vở nhãn hiệu BTS đã bị Công an thu giữ khi bắt quả tang.
Cơ quan điều tra cho S xem lại quyển sổ nhãn hiệu BTS và xác định các số lô đề, số tiền ghi của các số lô đề, kết quả: Soạn xác định các chữ số ghi trong quyển sổ này là các số lô đề Soạn bán cho người chơi ngày 04/02/2025 với tổng số tiền là 7.800.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị can Soạn đánh bạc bằng hình thức ghi số lô đề với các đối tượng ngày 04/02/2025 là 7.800.000 đồng (Bẩy triệu tám trăm nghìn đồng).
* Về vật chứng: Đối với 02 điện thoại di động (01 điện thoại di động HUAWEI Y9 Prime màu xanh và 01 điện thoại di động OPPO) và số tiền 10.000.000 đồng là tài sản của chị Vũ Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội của S nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H.
Đối với số tiền 8.200.000 đồng; 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX1 SOẠN” (do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) bút bi màu đen, có mực màu đen đã cũ, đã qua sử dụng; được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chũ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 17/QĐ- VKS ngày 03 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ đã truy tố bị cáo Lương Văn S về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn S thừa nhận hành vi đánh bạc của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn S từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 - 15.000.000 đồng đối với bị cáo.
Giao bị cáo Lương Văn S cho UBND xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu “KX1 SOẠN” (do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) bút bi màu đen, có mực màu đen đã cũ, đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 7.800.000 đồng của bị cáo Lương Văn S.
Trả lại bị cáo Lương Văn S số tiền 300.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại anh Trương Văn L số tiền 100.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra còn đề nghị xem xét về quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có ý kiến tranh luận là mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là nặng.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát đối đáp tranh luận với ý kiến của bị cáo, bị cáo Lương Văn S nhất trí với bản luận tội và không có ý kiến tranh luận khác.
Ông Bùi Xuân N và ông Trần Văn B không có ý kiến tranh luận.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo Lương Văn S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, nhận định của Toà án như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lương Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 10 phút ngày 04/02/2025, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B bắt quả tang bị cáo Lương Văn S đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề tại gia đình Soạn cho các đối tượng. Tổng số tiền bị cáo S đánh bạc bằng hình thức ghi số lô số đề với các đối tượng ngày 04/02/2025 là 7.800.000 đồng (Bẩy triệu tám trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Lương Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Toà án kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã truy tố. Xét thấy, bản Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được xem xét và chấp nhận.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Lương Văn S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Toà án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự xã hội, trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Việc xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo là đúng quy định và cần thiết, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và bảo vệ trật tự pháp luật, đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo Lương Văn S là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo Lương Văn S có đủ điều kiện được hưởng án treo.
Vì vậy, Toà án áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của P.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội đánh bạc nhằm mục đích được thua bằng tiền nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[5] Đối với Trương Văn L, Lăng Văn T1, Bùi Xuân N, Trần Văn B có hành vi đánh bạc với Lương Văn S nhưng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Công an thị xã C đã xử lý hành chính đối với L, T1, N, Ba là có căn cứ.
Đối với Phạm Kỳ Q có hành vi đánh bạc với Lương Văn S nhưng Q đã chết nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Đối với đối tượng khai tên Nguyễn Văn V1 sau khi làm việc với Cơ quan điều tra, lợi dụng sơ hở đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra xác minh theo thông tin đối tượng cung cấp nhưng không có ai có thông tin địa chỉ như vậy. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là có căn cứ.
Đối với Vũ Thị H (vợ Lương Văn S) không đánh bạc, không biết S đánh bạc với các đối tượng nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở pháp luật.
[6] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Đối với 02 (hai) tờ giấy đều có dòng kẻ ngang, đều được ghi các chữ số được niêm phong trong 01 (một) phong bì dán kín có ký hiệu “KX1 SOẠN” (do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) bút bi màu đen, có mực màu đen đã cũ, đã qua sử dụng. Đây là những đồ vật không có giá trị bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với số tiền 8.200.000 đồng. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 7.800.000 đồng do đây là số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội đánh bạc.
- Trả lại bị cáo Lương Văn S số tiền 300.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội và thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại anh Trương Văn L số tiền 100.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội đánh bạc.
[7] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lương Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn S 07 (Bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung là phạt tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo Lương Văn S.
Giao bị cáo Lương Văn S cho UBND xã K, thị xã C, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) tờ giấy đều có dòng kẻ ngang, đều được ghi các chữ số được niêm phong trong 01 (một) phong bì dán kín có ký hiệu “KX1 SOẠN” (do phòng K Công an tỉnh B hoàn lại sau giám định); 01 (một) bút bi màu đen, có mực màu đen đã cũ, đã qua sử dụng.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 7.800.000 đồng của bị cáo Lương Văn S.
Trả lại bị cáo Lương Văn S số tiền 300.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại anh Trương Văn L số tiền 100.000 đồng.
Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Chũ.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Tuân |
8
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về tội đánh bạc
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lương Văn Soạn 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
