Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 10-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh và ông Đèo Văn Vĩnh.
  • Thư ký phiên toà: Ông Chảo Hò Sơn – Thẩm tra viên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn B; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 10/10/2005; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản H, xã K, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Lò Văn C, sinh năm 1985 và con bà Vàng Thị T, sinh năm 1984; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con không có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/8/2025, tạm giam từ ngày 07/8/2025 hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Vàng Văn K, sinh năm 1974, nơi cư trú bản L, xã K, tỉnh Lai Châu (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Đức T1 – Luật sư ký hợp đồng thực hiện việc trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 04/8/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-048.84 (Bị cáo mược của bác là ông Vàng Văn K, sinh năm 1974, trú tại bản Lang 2, xã K) đến bản N, xã K tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi được khoảng hơn 01 K, bị cáo gặp và nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch mua hộ 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh với giá 400.000 đồng. Mua được Heroine bị cáo đi vào bụi cỏ ven đường cấu một ít để sử dụng bằng cách hít, số Heroine còn lại bị cáo cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Đến hồi 17 giờ 40 phút cùng ngày khi bị cáo đi đến bản H, xã K thì bị Công an xã K bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-048.84.

Tại bản kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 07/8/2025 Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn B có khối lượng là 0,177 gam, là ma túy; loại Heroine.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKSKV3 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh 01 vỏ phong bì niêm phong đã mở, trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-048.84. Về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xử bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Tranh luận với người bào chữa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Vàng Văn K đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 25B1-048.84 cho ông và không đề nghị gì thêm.

Tại lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 04/8/2025 tại bản Hợp 1, xã K, tỉnh Lai Châu, bị cáo đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,177 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã K phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa, Hội đồng xét xử xét thấy mức xử phạt thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của người bào chữa chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm của người bào chữa.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trong và ngoài địa bàn.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,177 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.

Vật chứng còn lại gồm:

  • - 01 mảnh nilon màu xanh là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và 01 phong bì niêm phong niêm phong ban đầu (khi thu giữ vật chứng) đã mở là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-048.84 là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Vàng Văn K, việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì ông Vàng Văn K không biết do vậy cần trả lại chiếc xe mô tô cho ông K theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có chứng khác chứng minh nên không có cơ sở để điều tra là phù hợp.

Đối với ông Vàng Văn K là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-048.84. Quá trình điều tra xác định khi cho bị cáo mượn xe, bị cáo không nói và ông K không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua Heroine nên ông K không phạm tội.

Sau khi bắt quả tang Lò Văn B, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra ma túy trong nước tiểu, kết quả B dương tính với M. Tuy nhiên B không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ xử lý bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn B 03 năm 02 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong ban đầu (khi thu giữ vật chứng) đã mở. Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Vàng Văn K chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-048.84.

  4. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo đối với phần quyền và nghĩa vụ trong bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 14/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu).

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 3 – Lai Châu;
  • - Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu;
  • - Cơ quan THAHS, Công an tỉnh (PC10);
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh Lai Châu (PC11);
  • - Phòng PC01, Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Phân trại tạm giam Phong Thổ;
  • - Phòng PV06, Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Văn Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger