Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐĂK HÀ

TỈNH KON TUM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 08/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KONTUM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Anh Phương.
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Thống và bà Y Hiền.
  • Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Chí Dũng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 08/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Thành N, sinh ngày 17/3/2002 tại tỉnh Kon Tum. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Không ổn định; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Thành T, sinh năm: 1976 và bà Hồ Thị M, sinh năm: 1980, cùng trú tại Thôn A, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; Gia đình bị cáo có hai chị em, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2024 đến nay (Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác), có mặt tại phiên tòa.

  • - Bị hại: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1983;
  • Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum - có đơn xin vắng mặt;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Đỗ Thành T, sinh năm 1975;
  • Trú tại: Thôn A, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum- Có mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Trương Duy T1, sinh năm 1976;
  • Trú tại: Thôn E, xã Đ, thành phố K, tỉnh Kon Tum- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 14/11/2024, khi Đỗ Thành N chơi bida trong tiệm sửa xe của Trương Duy T1 tại đường B, thành phố K thì T1 nhờ N điều khiển một xe mô tô lên huyện Đ để giao cho khách của T1 thì N đồng ý. N điều khiển xe mô tô của khách, T1 điều khiển xe mô tô của T1 rồi cả hai đi lên huyện Đ, đến cây xăng thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum thì dừng lại chờ khách của T1 đến giao nhận xe. Trong thời gian chờ khách của T1 đến nhận xe, N có mượn xe mô tô của T1 đi mua đồ ăn, nước uống, T1 đồng ý. Mua đồ ăn, nước uống xong, trên đường quay lại cây xăng, N nhìn thấy 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 82HA- 008.74 của anh Hoàng Văn Đ dựng trước quán tạp hóa bên trái đường nhựa cách cây xăng xã Đ khoảng 50 mét hướng từ xã Đ đi ra Quốc lộ A, xe mô tô có gắn sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại. N điều khiển xe mô tô về lại cây xăng xã Đ trả xe cho T1, đưa cho T1 một lon nước ngọt đồng thời nói với T1 đi về trước có việc. N đi bộ lại quán tạp hóa, đến nơi N vẫn thấy chiếc xe mô tô mà N có ý định chiếm đoạt trước đó vẫn còn dựng như cũ, N quan sát không thấy ai rồi lén lút đi lại chỗ chiếc xe mô tô trên, dắt ra khỏi khu vực quán tạp hóa một đoạn mở khóa, khởi động xe rồi điều khiển xe mô tô đi theo hướng xuống thành phố K. Đến đoạn đường Q, khu vực nghĩa trang thành phố K, N dừng xe mô tô, bẻ, vứt biển kiểm soát vào bụi rậm ven đường rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô về thành phố K. Nhằm tránh sự phát hiện của Cơ quan Công an và người dân N điều khiển xe lòng vòng khu vực thành phố K đến khoảng 22 giờ cùng ngày N quay lại tiệm sửa xe của T1, lấy đồ dùng cá nhân rồi đi về nhà tại thôn A, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Ngày 22/11/2024, anh Đ làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG, ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YALIM; Số loại: SIRUS CR9; Loại xe: Hai bánh dưới 50 cm3; màu sơn: Đen; Có số khung: RL9BCBCL7PDA06517; có số máy: HDA139FMBB006517 tại thời điểm định giá: Tháng 11/2024 có giá 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm ngàn đồng chẵn).

Bản cáo trạng số: 14/CT-VKSĐH, ngày 05-3-2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố Đỗ Thành N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; Điều 38; Điều 50, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên:

  • * Về tội danh: Tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • * Về hình phạt: Xử phạt bị cáo mức án từ 06 Sáu) đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
  • * Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xác định được chủ sở hữu hợp pháp của tang vật đã thu giữ và tiến hành xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • * Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 1.000.000 đồng, đề nghị không xem xét.

Lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến gì và cũng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, tại đơn xin xét xử vắng mặt, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Mặt khác tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xử vụ án.
  3. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa đã xác định được:

Khoảng 18 giờ ngày 14/11/2024, bị cáo N lợi dụng sơ hở của chủ quản lý tài sản. N có hành vi lén lút đột nhập vào quán T2 thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon lấy trộm 01 (một) chiếc xe Mô tô biển kiểm soát 82HA- 008.74 của anh Hoàng Văn Đ dựng trước quán T2. Tại bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG, ngày 13/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị tài sản mà N đã trộm cắp tại thời điểm bị mất là 10.400.000 đồng (Mười triệu bốn trăm ngàn đồng chẵn).

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp về mặt thời gian, nội dung diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường và các đồ vật, tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với nội dung vụ án mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đã truy tố. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo theo điều luật vừa nêu, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của Đỗ Thành N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong dân cư trên địa bàn. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng đã sớm thể hiện ý thức coi thường pháp luật, bị cáo không tu chí làm ăn mà lười biếng lao động, ham chơi lêu lổng, trộm cắp tài sản để phục vụ cho mục đích cá nhân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

  1. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
    • [5.1] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt;
    • [5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
    • [5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo rõ về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã vận động gia đình đến xin lỗi và bồi thường khắc phục hậu quả do mình gây ra cho bị hại, bị cáo có ông N1 là liệt sỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
  2. [6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người lao động tự do, không có công việc và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
  3. [7] Qua thẩm vấn tại phiên toà bị cáo còn khai nhận: Ngoài thực hiện hành vi trộm cắp nêu trên thì bị cáo còn thực hiện hành vị trộm cắp tài sản tại thành phố K vào các ngày 17, 18/11/2024 và huyện S, tỉnh Kon Tum vào các ngày 17/10/2024, 03/11/2024. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với N. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  4. [8] Đối với Trương Duy T1: Ngày 14/11/2024, Trương Duy T1 nhờ Đỗ Thành N điều khiển giúp mình 01 (Một) chiếc xe mô tô đi từ thành phố K lên đến cây xăng thuộc xã Đ, huyện Đ giao xe cho khách hàng. Trong quá trình chờ giao xe thì Đỗ Thành N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, T1 hoàn toàn không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với Trương Duy T1 là đúng.
  5. [9] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Hoàng Văn Đ đã nhận lại tài sản bị mất và tiền bồi thường thiệt hại, bị hại không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác nên HĐXX không đề cập đến.
  6. [10] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xử lý: Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Văn Đ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

    - Đối với biển kiểm soát 82HA- 008.74: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành trích xuất, áp giải bị cáo đến nơi bị cáo vứt biển kiểm soát trên, đồng thời phối hợp cùng Công an xã Đ, huyện Đ tiến hành truy tìm nhưng không thu được và bị hại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. [11] Đối với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) mà ông Đỗ Thành T đã bồi thường thay cho bị cáo. Tại phiên tòa ông T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  8. [12] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà trình bày lời luận tội và đề nghị áp dụng điều luật, về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  9. [13] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thành N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Đỗ Thành N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Đỗ Thành N phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (08/04/2025). Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh KonTum;
  • - Công an tỉnh KonTum;
  • - VKSND huyện Đăk Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Đăk Hà;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh KonTum;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Đoàn Anh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thành Nhựt- Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger