TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày: 04 - 03 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Vinh Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và ông Nguyễn Hữu Trực.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Vũ, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Chí T
(tên gọi khác: Phanh); sinh ngày 13/12/1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay thành phố H); số CCCD: [...]; nơi cư trú: Số F đường Đ, phường P, quận T, thành Phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị H; tiền sự: không; tiền án: có 04 tiền án:
- Ngày 03/4/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 53/2018/HSST)
- Ngày 21/11/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 258/2019/HSST).
- Ngày 16/9/2021, bị Toà án nhân dân thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 58/2021/HSST)
- Ngày 01/11/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 332/2023/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2024.
Bị bắt tạm giam ngày 17/10/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố H cho đến nay; có mặt.
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1995; địa chỉ: 0 đường Đ, phường P, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
- Anh Ngô Đăng Q1, sinh năm 2004; địa chỉ: Số C đường T, phường T, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
- Chị Lê Phan Nguyệt M, sinh năm 2005; địa chỉ: Số B đường Đ, phường T, quận T, thành phố H. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lần 1: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 06/10/2024, Nguyễn Chí T đi bộ tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến nhà trọ số F Đ, phường P, quận T, thành phố H; phát hiện chiếc xe đạp thể thao màu đen-bạc của chị Nguyễn Thị P để ở sân nhà trọ, không có người trông coi xe nên T lén lút lấy trộm chiếc xe đạp.
Lần 2: Khoảng 5 giờ 20 phút ngày 06/10/2024, T đi xe đạp trộm cắp của chị Nguyễn Thị P đến nhà trọ số C T, phường T, quận T, thành phố H tiếp tục lấy trộm xe mô tô BKS 92N6-1690 của anh Ngô Đăng Q1 để tại sân nhà trọ. T tự đấu nối dây điện nổ máy xe trộm cắp chạy đi. Khoảng 05 phút sau T quay lại dắt xe đạp trộm cắp được của chị P cất giấu tại vỉa hè trước số nhà B T, phường T. Sau khi trộm cắp được xe mô tô trên, T tháo biển số 92N6-1690 ném xuống sông H rồi đưa xe đến bán cho ông Võ T1 là người thu mua phế liệu ở 6 A, phường A với giá 700.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
Lần 3: Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 09/10/2024, T đi bộ đến nhà trọ số B Đ, phường T, quận T, thành phố H lấy trộm xe mô tô BKS 75H4-4656 của chị Lê Phan Nguyệt M để trước cổng nhà trọ. T tự đấu nối dây điện nổ máy xe trộm cắp chạy đến khu vực tượng đài Q, quận T, thành phố H tháo biển số 75H4-4656 vứt bỏ rồi chạy xe tìm chỗ bán nhưng chưa bán được, đã sử dụng đi lại cho đến khi bị Công an phường T thu giữ.
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 5856/KL ngày 17/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận, tại thời điểm ngày 09/10/2024 giá trị xe mô tô BKS 75H4-4656, nhãn hiệu Wave Honda, màu xanh, BKS 75H4-4656, số khung: HC090X3Y-104062, số máy: HC09E0104131, đã qua sử dụng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 6537 ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: Xe đạp loại thể thao nhãn hiệu BRIDGE STONE, màu đen bạc đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 06/10/2024 có giá trị là 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 6538 ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: Xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, BKS 92N6-1690; số khung: HC09004Y328152, số máy: HC09E3027929, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 06/10/2024 có giá trị là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)
Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Chí T chiếm đoạt vào các ngày 06 và 09/10/2024 là 6.350.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng)
* Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng:
- 01 xe đạp loại thể thao nhãn hiệu BRIDGE STONE, màu đen bạc;
- Xe mô tô BKS 92N6-1690, nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh;
- Xe mô tô BKS 75H4-4656, nhãn hiệu Wave Honda, màu xanh.
Những vật chứng này, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
- 02 đĩa CD có dữ liệu hình ảnh Nguyễn Chí T trộm cắp các ngày 06/10/2024 và 09/10/2024, được đưa vào hồ sơ vụ án.
- 02 biển số xe 92N6-1690 và 75H4-4656, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
* Trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị hại Nguyễn Thị P, Ngô Đăng Q1, Lê Phan Nguyệt M đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường 700.000 đồng số tiền mua xe mô tô 92N6-1690.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSQTH ngày 09/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 17/10/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu gì nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu; người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Đối với 02 đĩa CD có dữ liệu hình ảnh Nguyễn Chí T trộm cắp các ngày 06/10/2024 và 09/10/2024; cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí: Đề nghị tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận hành vi đã thực hiện như cáo trạng truy tố; xin Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
[2] Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 06 và 09 tháng 10 năm 2024, tại địa bàn các phường P và phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay các phường P và phường T thuộc quận T, thành phố H), bị cáo Nguyễn Chí T đã có hành vi lén lút trộm cắp xe đạp của chị Nguyễn Thị P có giá trị 350.000 đồng, xe mô tô BKS 92N6-1690 của anh Ngô Đăng Q1 có giá trị 3.000.000 đồng và xe mô tô BKS 75H4-4656 của chị Lê Phan Nguyệt M có giá trị 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Chí T chiếm đoạt được định giá là 6.350.000 đồng. Do đó, Nguyễn Chí T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Chí T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Nhưng do bị cáo có tiền án xác định đã tái phạm (Bản án số 258/HSST ngày 21/11/2019), chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Thuận Hoá truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội 02 lần trở lên nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Chí T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam nên đã phạm tội. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã 04 lần đều bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, vẫn không chịu tu dưỡng rèn luyện trở thành người tốt, mà trong thời gian ngắn bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội. Hành vi của bị cáo cho thấy rõ việc coi thường pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp, xe mô tô cho chủ sở hữu; người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 02 đĩa CD có dữ liệu hình ảnh Nguyễn Chí T trộm cắp các ngày 06/10/2024 và 09/10/2024; cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Chí T (P1) 02 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 17/10/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Vinh Phú |
5
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HOÁ, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự
