|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:15/2025/HS - PT Ngày 23 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
Các Thẩm phán: Ông Ngô Thế Tương và Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 192/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo: Đặng Văn V, Đặng Minh T, Phan Văn Đ, Lê Tôn T1, Nguyễn Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2024/QĐXXPT-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/HSPT-QĐ ngày 08/01/2025.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Đặng Văn V, sinh năm 1967 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T2 và bà Vũ Thị X (đều đã chết); có vợ là Tô Thị N1 và 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bố bị cáo ông Đặng Văn T2 là thương binh hạng 5/6.
Quyết định khởi tố bị can số 41 ngày 08/6/1990 Công an huyện T khởi tố tội tiêu thụ tài sản trong vụ án có nhiều bị can phạm tội Trộm cắp tài sản sau đó Viện kiểm sát đã đình chỉ điều tra, Bản án số 22 ngày 27/9/1990 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xét xử các bị cáo khác tội trộm cắp tài sản đã nhận định nhất trí Quyết định đình chỉ điều tra bị can Việt của Viện kiểm sát nhân dân.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
-
Phan Văn Đ, sinh năm 1985 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà Đoàn Thị L; có vợ là Vũ Thị B và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam. Ngày 17/5/2024, bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Tôn T1, sinh năm 2000 tại huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: xóm C, thôn L, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tôn H và bà Lê Thị D; có vợ là Lê Thị Thu H1; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
-
Đặng Minh T, sinh năm 1990 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H2 và bà Đặng Thị T3; có vợ là Trần Thị T4 và 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 06/2019/HSST ngày 21/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xử phạt 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 4 năm, phạt bổ sung 8.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 21/5/2022, chấp hành xong án phí, hình phạt bổ sung ngày 15/4/2022, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024 chuyển tạm giam. Ngày 17/5/2024, bị cáo được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn N, sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N2 và bà Trần Thị N3; bị cáo có vợ là Đỗ Thị H3 và có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 2005 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại f 99, Binh đoàn 12 đến năm 2007 xuất ngũ về địa phương.
Bản án số 41/2013/HSST ngày 04/9/2013 Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 9 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập 1.800.000 đồng về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 24/03/2024, Đặng Minh T, Trần Văn T5, Nguyễn Văn N, Phan Văn Đ, Đoàn Văn Đ1, Đỗ Thành V1 sinh năm 1998, trú tại thôn Q, xã Đ, huyện T sau khi ăn cỗ đám cưới anh Đặng Minh T6, sinh năm 1997 ở thôn K, xã Đ, huyện T (em trai Đặng Minh T) cả nhóm rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh xóc đĩa, T nói đến nhà bà Vũ Thị X (bà ngoại của T đã chết) ở thôn K, xã Đ, huyện T, hiện do Đặng Văn V (con trai bà X) là người trực tiếp quản lý, trông coi để đánh bạc (nhà bà X bên cạnh nhà V ở trong cùng một khuôn viên). Đến nơi cả nhóm đứng ngoài sân nhà bà X, Đ không mang theo tiền nên hỏi T5 vay số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để đánh bạc, T5 đưa 5.000.000đồng cho Đ sau đó T5 đi có việc. V từ trong nhà đi ra thì T hỏi V cho các đối tượng vào đánh bạc ăn tiền trong nhà bà X, V đồng ý rồi V đi vào trong nhà V còn T, N, Đ, Đ1, V1 đi vào trong nhà bà X. Tại gian phòng khách nhà bà X đã có chiếu nhựa và thảm trải bằng vải đã được trải sẵn dưới nền nhà và có một bộ bát, đĩa bằng sứ, một chiếc kéo và một bộ bài tú lơ khơ 52 cây. Đ1 dùng kéo cắt bốn quân vị hình tròn từ quân bài tú lơ khơ để làm công cụ đánh bạc. Lúc này Đặng Văn Q đến, N hỏi Q vay số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc, Q đưa tiền cho N vay rồi Q sang nhà V ngồi chơi. Sau khi cắt quân vị xong, Đ cầm cái xóc đĩa để N, T, Đ1 đánh bạc, quy định mức cá cược như sau: người chơi đặt cược theo 2 cửa chẵn - lẻ, cửa chẵn là trong 04 quân vị có 02 quân sấp, 02 quân ngửa, 04 quân sấp hoặc 04 quân ngửa, còn cửa lẻ là 03 quân sấp 01 quân ngửa hoặc 03 quân ngửa 01 quân sấp, dựa trên mặt của quân vị, đặt cược thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất tùy người chơi, V1 không tham gia đánh bạc và ngồi trên giường xem. T đánh bạc được 4 ván thì không chơi nữa đứng cạnh chiếu bạc xem, sau đó Nguyễn Văn S, Trương Công T7, Trần Văn G, Phan Văn N4 đến và tham gia đánh bạc cùng cả nhóm. Cả nhóm đang đánh bạc thì V vào xem, T bảo cả nhóm mỗi người đóng 100.000 đồng tiền hồ đưa cho V. Ngoan, Đ, Đ1, S, T7, N4, G mỗi người bỏ 100.000 đồng ra chiếu, Sáng thu được 700.000 đồng đưa cho T, T đưa lại cho V, V nhận tiền rồi đi về nhà của mình. Tiếp đó có Trần Văn T5, Đặng Văn Q, Trần Hải A, Đoàn Minh Q1, Đặng Văn T8, Lê Tôn T1, Đặng Văn L1, Phạm Hồng S1, Phạm Trần Minh Đ2 đến. Tiện, T5, Q, Hải A, T1, Q1 tham gia đánh bạc cùng cả nhóm còn Đ2, S1, L1 không đánh bạc mà ngồi xem. Các đối tượng đánh bạc đến 12 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc: 01 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc kéo, 01 chiếu nhựa, 01 thảm vải màu đỏ xanh, 04 quân vị hình tròn được cắt từ quân bài tú lơ khơ và số tiền 59.430.000 đồng (Năm mươi chín triệu bốn trăm ba mươi nghìn đồng). Cùng ngày Đặng Văn V và Đặng Minh T đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi vi phạm của bản thân, Đặng Minh T giao nộp số tiền 3.600.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, Đặng Văn V giao nộp số tiền 700.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đã quyết định:
*Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Gá bạc”. Các bị cáo Phan Văn Đ, Lê Tôn T1, Đặng Minh T, Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
*Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024. Phạt bổ sung là phạt tiền 15 triệu đồng đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024 đến ngày 17/5/2024. Phạt bổ sung là phạt tiền 15 triệu đồng đối với bị cáo. Bị cáo đã nộp số tiền 05 triệu đồng tại Biên lai số 0001685 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, chuyển số tiền trên sang thi hành án, bị cáo còn phải nộp số tiền 10 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tôn T1 03 (ba) năm tù giam, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024. Phạt bổ sung là phạt tiền 10 triệu đồng đối với bị cáo. Bị cáo đã nộp số tiền 05 triệu đồng tại Biên lai số 0001688 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, chuyển số tiền trên sang thi hành án, bị cáo còn phải nộp số tiền 05 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Minh T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù giam, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024 đến ngày 17/5/2024. Phạt bổ sung là phạt tiền 10 triệu đồng đối với bị cáo. Bị cáo đã nộp số tiền 05 triệu đồng tại Biên lai số 0001687 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, chuyển số tiền trên sang thi hành án, bị cáo còn phải nộp số tiền 05 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tháng tù giam, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/3/2024 đến ngày 02/4/2024. Phạt bổ sung là phạt tiền 07 triệu đồng đối với bị cáo. Bị cáo đã nộp số tiền 05 triệu đồng tại Biên lai số 0001692 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, chuyển số tiền trên sang thi hành án, bị cáo còn phải nộp số tiền 02 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Văn T5 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Đặng Văn Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Trần Hải A từ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Đoàn Văn Đ1 03 (ba) năm tù giam; bị cáo Phan Văn N4 03 (ba) năm tù giam; bị cáo Trương Công T7 03 (ba) năm tù giam; bị cáo Đoàn Minh Q1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Trần Văn G 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm; bị cáo Đặng Văn T8 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm đều về tội “Đánh bạc”. Tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/9/2024 bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 01/10/2024: bị cáo Đặng Văn V kháng cáo xin được hưởng án treo; bị cáo Phan Văn Đ xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; bị cáo Đặng Minh T xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo; bị cáo Lê Tôn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 08/01/2025 bị cáo Nguyễn Văn N rút toàn bộ kháng cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm:
bị cáo Đặng Minh T rút toàn bộ kháng cáo. Bị cáo Đ thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo V và bị cáo T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đặng Minh T.
- Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Đ.
- Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Văn V và bị cáo Lê Tôn T1, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo V và T1 được hưởng án treo.
Các bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong HĐXX chấp nhận kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: kháng cáo của các bị cáo làmtrong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Ngày 08/01/2025, bị cáo Nguyễn Văn N rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã ra Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm số 02/2025/HSPT-QĐ ngày 08/01/2025 đối với bị cáo N.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Đặng Minh T rút toàn bộ kháng cáo, căn cứ vào Điều 342 và điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo T.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo thấy:
[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình,lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 12 giờ 20 phút, ngày 24/3/2024, các bị cáo Phan Văn Đ, Lê Tôn T1, Trần Văn T5, Đặng Văn Q, Trần Hải A, Đặng Minh T, Đoàn Văn Đ1, Phan Văn N4, Nguyễn Văn N, Trương Công T7, Đoàn Minh Q1, Trần Văn G, Nguyễn Văn S, Đặng Văn T8, Đặng Minh T có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 63.730.000 đồng.
Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cụ thể như sau: Phan Văn Đ 5.000.000đồng, Lê Tôn T1 20.000.000 đồng, Trần Văn T5 7.620.000, Đặng Văn Q 6.500.000 đồng, Trần Hải A 4.000.000 đồng, Đặng Minh T 3.800.000 đồng, Đoàn Văn Đ1 3.200.000 đồng, Phan Văn N4 2.800.000 đồng, Nguyễn Văn N 2.500.000 đồng, Trương Công T7 2.200.000 đồng, Đoàn Minh Q1, 1.200.000 đồng, Trần Văn G 1.100.000 đồng, Nguyễn Văn S 1.000.000 đồng, Đặng Văn T8 1.000.000 đồng.
Bị cáo Đặng Văn V không tham giam đánh bạc nhưng biết và cho các bị cáo trên sử dụng địa điểm do V là người trực tiếp quản lý, trông coi để đánh bạc và được hưởng lợi số tiền 700.000 đồng. Do đó Toà án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Phan Văn Đ, Lê Tôn T1, Đặng Minh T, Nguyễn Văn N phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
[2.3] Bị cáo Đặng Văn V cho các bị cáo khác đánh bạc tại nhà bà Vũ Thị X (mẹ đẻ của bị cáo) là lần đầu tiên và do nể nang, không nhận thức được mức độ nguy hiểm về hành vi của mình. Vì trong số các bị cáo đến đánh bạc có bị cáo Đặng Minh T là cháu ruột, bị cáo Đặng Văn Q là con rể của bị cáo và chỉ có 7 trong số 14 bị cáo đánh bạc nộp tiền hồ cho bị cáo, số tiền này do T là người chủ động yêu cầu các bị cáo khác nộp rồi đưa cho bị cáo mà không phải bị cáo trực tiếp thu. Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú và có bố đẻ là thương binh quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.4] Bị cáo Lê Tôn T1 ở nơi khác đến địa phương dự đám cưới, phạm tội do bị rủ rê, ham vui. Mặc dù bị cáo sử dụng số tiền vào việc đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác, song đây là lần đầu bị cáo phạm tội, bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo đã tự nguyện nộp 1/2 số tiền phạt trước khi xét xử sơ thẩm, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền phạt và án phí thể hiện việc chấp hành pháp luật của bị cáo, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.5] Bị cáo V và bị cáo T1 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng. Xét thấy hai bị cáo có khả năng tự cải tạo mà chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo V và bị cáo T1, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt tù đối với hai bị cáo, tạo điều kiện cho hai bị cáo có cơ hội cải tạo, sửa chữa sai lầm trở thành người công dân tốt là phù hợp với chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[2.6] Bị cáo Phan Văn Đ là người cầm cái trong suốt thời gian đánh bạc, giữ vai trò thứ nhất trong vụ án, do đó Tòa án sơ thẩm buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp với tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới, vì vậy HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
[3] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo V và bị cáo T1 được chấp nhận; bị cáo T rút kháng cáo nên ba bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo Đ không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 342, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Đặng Minh T. Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đối với bị cáo Đặng Minh T có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/01/2025.
- Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn Đ.
- Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Văn V và bị cáo Lê Tôn T1, sửa bản án sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 25/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo V và T1 được hưởng án treo.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Gá bạc”. Tuyên bố các bị cáo: Phan Văn Đ, Lê Tôn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/01/2025.
Giao bị cáo Đặng Văn V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Đặng Văn V 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024 đến ngày 17/5/2024.
Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Phan Văn Đ 15.000.000 ( mười năm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 ( năm triệu) đồng tại Biên lai số 0001685 ngày 06/9/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, bị cáo còn phải nộp 10.000.000 ( mười triệu) đồng.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tôn T1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/01/2025.
Giao bị cáo Lê Tôn T1 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Lê Tôn T1 10.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo đã nộp 10.000.000 đồng tại Biên lai số 0001688 ngày 06/9/2024 và biên lai số 0001735 ngày 07/10/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, bị cáo T1 đã nộp xong hình phạt bổ sung.
- Áp dụng điểm b, c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/01/2025.
- Về án phí phúc thẩm: căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Đặng Văn V, bị cáo Lê Tôn T1 và bị cáo Đặng Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 23/01/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Minh Huệ |
Bản án số 15/2025/HS - PT ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (vụ án gá bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 15/2025/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vụ án Gá bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 15/2025/HS-PT ngày 13/5/2025
