|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-PT Ngày: 21-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Tâm;
Bà Phạm Ngọc Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 170/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tiến T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Tiến T, sinh năm 2000 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến T1 (chết) và bà Nguyễn Thị Thu Đ; có vợ là Nguyễn Thị Cẩm T2; có 02 người con, sinh năm 2019 và năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại toà.
Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Anh T3, Nguyễn Văn P, Trần Minh T4 và bị hại Phạm Thị N không có kháng cáo; không liên quan đến kháng cáo. Toà án không triệu tập
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 02/02/2024, T3 điều khiển xe mô tô biển số 17B1-610.09 chở theo P đến nhà ông Đinh Thanh S, sinh năm 1964, thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để uống rượu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T3 và P nghỉ uống rượu ra về. Trên đường về, T3 rủ P tìm những học sinh đi học về hoặc phụ nữ chạy xe đi một mình trên đường để cướp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì P đồng ý. Sau đó, T3 chở P đến tiệm tạp hóa của bà Phạm Thị T5, sinh năm 1974, thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh mua 02 cây rựa với số tiền 230.000 đồng để làm hung khí để đi cướp tài sản. T3 lấy 01 cây rựa để ở trước ba ga xe mô tô và 01 cây rựa còn lại T3 đưa cho P cầm ngồi phía sau xe. T3 điều khiển xe chở theo P đến khu vực ngã ba “H" thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để tìm người cướp tài sản.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, do không phát hiện người đi đường một mình, T3 điều khiển xe chở P chạy về hướng xã T. Khi đến khu vực đoạn đường thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì thấy phía sau có xe mô tô chạy đến, T3 chở theo P điều khiển xe chạy chậm chờ xe phía sau chạy qua để cướp. Lúc này, chị Phạm Thị N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 70K1-692.17 chạy một mình vượt qua xe của T3 và P. T3 thấy chị N đi một mình nên tăng ga đuổi theo áp sát vào xe mô tô của của chị N, P dùng rựa khống chế và yêu cầu chị N dừng xe. Thấy vậy, chị N dừng xe lại và xuống xe thì P xuống xe giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax của chị N đang cầm trên tay đưa cho T3 giữ, sau đó P để cây rựa lên xe mô tô nhãn hiệu Vario của chị N rồi đề máy điều khiển xe chạy về hướng xã T. T3 thì nắm tay trái của chị N kéo về phía sau định lên xe đề máy để chạy theo P thì phát hiện trên tay của chị N có đeo vòng bằng vàng nên T3 gỡ vòng tay của chị N nhưng không gỡ được, chị N hoảng sợ nên tự tháo 02 vòng tay bằng vàng 18 K đưa cho T3. Sau khi lấy được tài sản, T3 lên xe mô tô chạy theo P, cả hai đến khu vực đường bê tông thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì vứt bỏ điện thoại di động vừa cướp được của chị N vì sợ điện thoại có định vị sẽ bị phát hiện, cả hai chạy thêm 01 đoạn thì vứt 02 cây rựa. Khi T3 và P chạy đến khu vực đường vắng thì dừng xe lại, T3 và P vặn công tắc xe Vario vừa cướp được của chị N để mở cốp xe, khi mở được cốp xe thì xe Vario tắt máy. Sau đó, T3 và P kiểm tra bên trong cốp xe thì phát hiện 01 ví nữ màu trắng đen bên trong có số tiền 4.000.000 đồng, 01 căn cước công dân, 02 thẻ ATM, 01 thẻ giữ xe, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 hộp đựng nữ trang bằng nhựa màu đỏ bên trong có 02 chiếc bông tai hình hoa mai bằng vàng 24 K trọng lượng 01 chỉ và các giấy tờ cá nhân khác. Các tài sản này P đưa cho T3 giữ,
sau đó T3 bỏ các tài sản này vào túi quần rồi vứt những giấy tờ không có giá trị cùng thẻ ngân hàng, hộp đựng nữ trang, ví nữ màu trắng đen và 01 áo khoác màu đen lại hiện trường. Do xe V không mở công tắc đề máy xe được nên P và T3 cùng nhau đẩy xe xuống dưới mương cất giấu để sáng mai sẽ mang đi tiêu thụ. Sau khi đẩy xe mô tô xuống mương xong, P điều khiển xe mô tô của T3 chở T3 đến khu vực Nghĩa trang xã T để phân chia tài sản cướp được nhưng do có xe của người dân chạy phía sau, sợ bị phát hiện nên T3 nói dối với P là đã vứt các tài sản cướp được của chị N thì cả hai xảy ra cự cãi. Sau đó, P yêu cầu T3 đưa tiền để P đi trốn thì T3 kêu P chở về nhà T3 thuộc ấp T, xã T để uống nước và lấy tiền đưa cho P. Khi về đến nhà thì T3 lấy 500.000 đồng trong số tiền cướp được cùng căn cước công dân, thẻ ATM, thẻ giữ xe, giấy chứng nhận đăng ký xe, thẻ ghi thông tin hợp đồng Fecredit của chị N đưa cho P rồi kêu P trên đường đến bến xe xã T thì vứt bỏ những giấy tờ này. Khi P đi ngang nhà chị Lý Thị T6, sinh năm 1988, thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì P vứt các giấy tờ của chị N ngoài lề đường trước nhà chị T6, sau đó P đón xe đi Thành phố Hồ Chí Minh bỏ trốn.
Đến sáng ngày 03/02/2024, T3 kiểm tra tài sản cướp được của chị N là 4.000.000 đồng, 02 vòng tay vàng 18 K, 01 chiếc bông tai hình hoa mai vàng 24 K. T3 mang tất cả bỏ vào ví da rồi cùng gia đình đi tảo mộ tại Nghĩa trang xã T. Tại đây, T3 gặp T4 rồi cùng nhau uống rượu. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T3 nhờ T4 và T (là anh ruột của T3) phụ đẩy xe mô tô của chị N mà T3 và P đã cướp và giấu dưới mương nước trước đó lên để mang đi tiêu thụ, T3 nói với T4 và T là xe mô tô do T3 trộm cắp. Sau khi đẩy xe lên thì T điều khiển xe của T về nhà trước, T4 điều khiển xe của T3 và dùng chân kè đẩy xe Vario do T3 ngồi điều khiển. Khi về đến nhà bà Phạm Thị H, sinh năm 1963, thuộc ấp T, xã T, huyện T (là mẹ vợ của T4), T3 thấy anh Phạm Minh C, sinh năm 1995 là anh vợ của T4 đang ngồi trên võng ăn cơm thì T3 nói với anh C cho gửi xe Vario đến chiều sẽ mang đi, anh C không biết xe mô tô này do T3 cướp được nên đồng ý cho T3 gửi xe. T3 đẩy xe mô tô V ra sau nhà bếp và thấy có bộ dụng cụ sửa xe của anh C để ở gần đó thì lấy tua vít đưa cho T nhờ phụ tháo bình ắc quy xe, còn T3 thì tháo biển số xe cất giấu. Sau đó T3, T và T4 đến nhà của T uống rượu, tại đây T3 đưa 02 chiếc vòng đeo tay vàng 18 K và 02 chiếc bông tai vàng 24 K cho chị Nguyễn Thị Cẩm T2 ( là chị dâu của T3) nhờ cất dùm. Chị T2 không biết tài sản do T3 phạm tội mà có nên đồng ý giữ giúp. Sau khi uống rượu xong, T3 và T4 điều khiển xe về lại nhà bà H, tại đây T4 tiếp tục phụ T3 tháo mặt nạ xe Vario, còn T3 nối dây bình ắc quy làm cho xe nổ máy để mang đi tiêu thụ, T3 hứa nếu bán được xe sẽ cho T4 và T tiền. Khi T4 và T3 đang tháo các bộ phận của xe V1 thì Công an huyện T kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Đến ngày 07/02/2024, P đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đầu thú.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác; tuyên xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07-10-2024 bị cáo Nguyễn Tiến T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo:
Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai trái, vi phạm pháp luật; bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của bị cáo. Hiện tại hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07-10-2024 bị cáo Nguyễn Tiến T có đơn kháng cáo. Qua xem xét, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ về hình thức, thời hạn và đảm bảo theo quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Qua xem xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Nên có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Mặc dù biết được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vario biển số 70K1-692.17 là do bị cáo Nguyễn Anh T3 phạm tội mà có; nhưng bị cáo T vẫn đồng ý giúp sức cho bị cáo T3 mang xe giấu từ mương nước lên, giúp sức tháo dây bình ắc quy làm cho xe mô tô nổ máy để T3 mang đi tiêu thụ, thì bị phát hiện.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Tiến T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan, sai.
[2.2] Hành vi của bị cáo mang tính chất ít nghiêm trọng nhưng nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp giúp sức cho bị cáo Nguyễn Anh T3 xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Đồng thời gây mất an ninh trật tự công cộng tại địa phương, nên hành vi của bị cáo phải xử lý để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Tiến T; thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phân hoá hình phạt đối với các bị cáo trong vụ án và xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 09 tháng tù là phù hợp với khung hình phạt của điều luật.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo T giúp sức cho T3 mang tài sản do phạm tội mà có đem đi tiêu thụ, nhưng giữa các bị cáo không có hứa hẹn việc hưởng lợi. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú ổn định. Tại toà, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: Bị cáo có ông ngoại (đang sống cùng gia đình bị cáo) là ông Nguyễn Văn H1 được Nhà nước tặng
thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, có 02 con còn nhỏ (sinh năm 2019 và 2021). Do đó, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[4] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T; sửa bản án sơ thẩm; chuyển hình phạt tù giam sang tù cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo về cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến T.
- Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 107/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên xử:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên phúc thẩm (21-02-2025)
T7 giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 15/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 15/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
