TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH Bản án số:15/2025/HS-PT Ngày 03-04-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Hải
Các Thẩm phán: Ông Đinh Trường Sơn và Bà Bạch Thị Hồng Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Phương Thảo – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử công khaivụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số:11/2025/TLPT-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáoBùi Văn H do có kháng cáo củabị cáo Bùi Văn H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Văn H1; tên gọi khác: Không, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1962 tại K, Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm V, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10;dân tộc: Mường;giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H2 và bà Bùi Thị H3 (đều đã chết);vợ là Bùi Thị À, sinh năm 1961; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1990.
Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 242-QĐ/UBKTHU ngày 17/5/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy K1.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến ngày 14/8/2024, hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Nguyễn Đức P, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1959; nơi thường trú: Khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Khu Q, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
Bị hại, người đại diện của bị hạikhông kháng cáo:
- Anh Bùi Văn H4 sinh năm 1993 (đã chết).Ngườiđại diện hợp pháp: Bà Bùi Thị B sinh năm 1968 (mẹ đẻ), đạidiện theo ủy quyền của bà B: ChịBùi Thị Liến sinh năm 1992. Trú tại: Xóm T, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Bùi Văn C sinh năm 1987 (đã chết).Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Văn D - sinh năm 1962 (bố đẻ) và bà Bùi Thị T - sinh năm 1964 (mẹ đẻ).Đại diện theo ủy quyền: Chị Bùi Thị T1 sinh năm 1985, Cùng trú tại : xóm T, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Bùi Văn Nguyên S năm 1978 (đã chết).Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Văn K sinh năm 1951 (bố đẻ), Bà Bùi Thị B1 sinh năm 1950 (mẹ đẻ), Chị Quách Thị C1 sinh năm 1979 (vợ), cháu Bùi Thị T2 sinh năm 2001 và Bùi Huy H5 sinh năm 2003 (con đẻ). Cùng trú tại: Xóm T, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.Ủy quyềntham gia tố tụng cho chị Quách Thị Chiến
- Anh Bùi Văn Q sinh năm 1986 (đã chết). Người đại diện hợp pháp: Bà Bùi Thị B2 sinh năm 1964 (mẹ đẻ), chị Bùi Thị C2 sinh năm 1987 (vợ). Cùng trú tại: Xóm K, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Bùi Văn H6 sinh năm 1977.Trú tại : Xóm Khoang, xã Cuối Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
- Anh Quách Công P1 sinh năm 1991. Trú tại:Xóm P, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:
Công ty cổ phần K2; địa chỉ: Xóm V, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Văn H7 – Chủ tịch HĐQT.Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1981; trú tại: Vĩnh Sơn - M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.
(Bị cáo, Bị hại, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty cổ phần K2 có trụ sở tại xóm V, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình,lĩnh vực kinh doanh chính là khai thác và thu gom than non.
Ngày 04/6/2013, Đại hội cổ đông Công ty cổ phần K2 quyết định bổ nhiệm Bùi Văn H1, sinh năm: 1962, trú tại: xóm V, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình giữ chức vụ Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty,có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo, điều hành sản xuất; Đôn đốc kiểm tra kiểm soát mọi hoạt động Công ty. Thực hiện đúng nghị quyết của HĐQT, tổ chức mở cửa lò khai thác than tại mỏ than Mường Vọ đảm bảo an toàn đúng quy trình kỹ thuật.
Ngày 02/01/2013, Công ty cổ phần K3 hợp đồng liên doanh với Nguyễn Đức P, sinh năm 1959, trú tại: Khu V, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường M, thị xã Đ).Thời hạn hợp đồng từ ngày 02/01/2013 đến ngày 31/12/2013. Nguyễn Đức P với vai trò là tổ trưởng, được đầu tư liên doanh khai thác than tại khu vực số 1 vỉa 8 mỏ than Mường Vọ thuộc địa bàn đã được cấp phép khai thác của Công ty, phải tự đầu tư về vật chất, tự chịu trách nhiệm trong việc khai thác, hạch toán kinh tế và an toàn lao động.
Sau khi ký hợp đồng, Nguyễn Đức P trực tiếp tuyển dụng lao động bao gồm: Bùi Văn L, sinh năm 1987; Bùi Văn Q1, sinh năm 1991; Bùi Văn N, sinh năm 1978; Bùi Văn H6, sinh năm 1977; Bùi Văn H4, sinh năm 1993; Bùi Văn C, sinh năm 1987; Bùi Văn Q2, sinh năm: 1989, đều trú tại: Xóm T, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Bùi Văn Q, sinh năm 1986, trú tại: Xóm K, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình và Quách Công P1, sinh năm: 1991, trú tại: Xóm P, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Những lao động này chưa được ký hợp đồng lao động bằng văn bản; chưa được đào tạo, huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động, không được trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện bảo hộ an toàn lao động theo quy định nhưng P vẫn đưa vào khai thác than trong hầm lò từ đầu tháng 10/2013.
Sáng ngày 29/10/2013, tại lò khai thác than số 3, khu vực số 1, vỉa 8 của Nguyễn Đức P. Theo quy định trước khi vào ca sản xuất Bùi Văn H1 là giám đốc điều hành sản xuất và vệ sinh an toàn lao động của Công ty cổ phần K2 phải đến các lò khai thác than để tiến hành quy trình kiểm tra an toàn lao động nhưng bị cáo H1 không có mặt để tổ chức kiểm tra an toàn lao động, không tiến hành đo nồng độ khí Metan. Nguyễn Đức P là người trực tiếp tổ chức việc khai thác vẫn để 08 lao động của tổ khai thác trong đó có 06 người trực tiếp xuống lò để khai thác gồm: Bùi Văn N, Bùi Văn H6, Bùi Văn H4, Bùi Văn C, Bùi Văn Q và Quách Công P1.Bùi Văn Q2 và Bùi Văn Q1 ở trên miệng lò. Sau khi các công nhân xuống khai thác đã xảy ra vụ nổ hỗn hợp khí “Metan” khiến cả 6 người bị bỏng nặng phải đưa đi cấp cứu tại V. 04 người bị nặng đã tử vong là Bùi Văn H4, Bùi Văn Q, Bùi Văn N, Bùi Văn C; 02 người còn lại là Bùi Văn H6 và Quách Công P1 bị thương, sau thời gian điều trị đã hồi phục được xuất viện.
Theo các Bản giám định pháp y của Phòng K4 Công an tỉnh H đều xác định 04 nạn nhân Bùi Văn N, Bùi Văn H4, Bùi Văn C, Bùi Văn Q chết do sốc bỏng.Bùi Văn H6 và Quách Công P1 tại thời điểm giám định tỷ lệ tổn thương là 37%.
Theo kết luận giám định số 3547/C54(P2) ngày 22/11/2013 của V1 Bộ C4 xác định nguyên nhânlà do hỗn hợp khí Metan (CH4) kết hợp với O không khí bên trong hầm lò khai thác than gây ra cháy nổ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức P và Bùi Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
Căn cứ điểm a, khoản 3 điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 54; điều 38 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Bùi Văn H1 42(Bốn mươi hai) tháng tùvề tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. Thời hạn thụ hình tính từ ngày đi thi hành án, được trừ đi thời hạn tạm giam từ ngày 09/05/2024 đến ngày 14/08/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức P, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025 bị cáo Bùi Văn H1 kháng cáo xin giảm hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm về việc giải quyết:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung:Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi đã xét xử bị cáoBùi Văn H về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”theo điểm a, khoản 3 Điều 295là có căn cứ. Đây là vụ án các bị cáo thực hiện với lỗi vô ý, sau khi phạm tội, quá trình điều tra, truy tố, xét xử ở cấp sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội hành vi phạm tội, quá trình giải quyết vụ án đã tích cực bồi thường cho bị hại, người bị hại có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Về nhân thân bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo đã từng có thời gian trong quân ngũ, sau khi về địa phương, lao động sản xuất và tham gia cấp ủy chi bộ xóm, có nhiều đóng góp phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương. Bản thân bị cáo có lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu mới gồm: Có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, là gia đìnhchính sách, có công với tổ quốc, có Anh ruột là Liệt Sĩ Bùi Văn C3 (có xác nhận của chính quyền địa phương),chính quyền địa phương xác nhận bị cáo có ủng hộ quỹ người nghèo, gia đình các bị hại có đơn đề nghị giảm hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, có cơ sở giảm hình phạt cho bị cáo.Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC, Văn bản hợp nhất ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán – Toà án nhân dân tối cao nhận thấy bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treochưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung và thể hiện tính nhân văn, chính sách khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS; chấp nhận kháng cáo của bị cáo H; Áp dụng khoản 3Điều 295; điểm s,b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 60 tháng thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn H1 trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Bị cáo Bùi Văn H1 đc bổ nhiệm làm giám đốc Công tyCổ phần khoáng sản Kim Bôitừ ngày 04/6/2013. Ngày 05/10/2013Bùi Văn Hờm đại diện Công ty ký hợp đồng liên doanh với Nguyễn Đức P, sinh năm 1959, trú tại: Khu V, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh để P khai thác than tại lò than số C, khu vực số 1, vỉa số 8 của Công ty. Nguyễn Đức P mặc dù chưa được đào tạo về lĩnh vực khai thác hầm mỏ nhưng vẫn ký hợp đồng liên doanh khai thác với Công ty Cổ phần K2, trực tiếp tuyển dụng người lao động (chưa được đào tạo, huấn luyện cấp chứng chỉ về vệ sinh, an toàn lao động) để tổ chức khai thác tại lò than số 3, khu vực số A, vỉa 8 mà P đã ký hợp đồng với Công ty. Ngày 29/10/2013, Bùi Văn H1 không có mặt để tổ chức kiểm tra an toàn lao động và đo nồng độ khí Metan trước khi người lao động xuống lò khai thác, Nguyễn Đức P chủ quan nên vẫn cho người lao động xuống lò khai thác. Từ việc chưa thực hiện đúng các quy trình an toàn lao động, dẫn đến cháy nổ hỗn hợp khí Metan với O1 không khí bên trong lò khai thác than, hậu quả làm 04 người chết và 02 người bị thương.
Bùi Văn H1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với vai trò là Giám đốc Công ty cổ phần K2, Bùi Văn H1 có chức năng, nhiệm vụ trực tiếp tổ chức chỉ đạo điều hành sản xuất, đôn đốc kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty, tổ chức mở cửa lò khai thác than đảm bảo an toàn và đúng quy trình kỹ thuật, đo nồng độ khí Metan.
Căn cứlời khai của công nhân lao độngBùi Văn L“thực tế bị cáo H1 không thực hiện kiểm tra thường xuyên mà chỉ ghi vào sổ”. Sổ nhật lệnh thể hiện việc kiểm tra của bị cáo H1 cũng không thường xuyên. Căn cứ quy định tại Điều 62 Luật khoáng sản 2010; Điều 8 Nghị định 158/2016/NĐ-CP thì bị cáo H1 là người phải chịu trách nhiệm triển khai, thực hiện các quy định về an toàn lao động. Bị cáo H1, bị cáo P đã vi phạm quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 56 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong khai thác hầm lò (QCVN 01:2011/BCT). Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 295 Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Ngày 29/10/2013, Bùi Văn H1 chưa tổ chức kiểm tra đo nồng độ khí M nhưng bị cáo P là người trực tiếp chỉ đạo lao động xuống lò khai thácdẫn đến cháy nổ hỗn hợp khí Metan tại lò khai thác than số 3, vỉa 8 gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm 04 người chết và 02 người bị thương. Do đó bị cáo H1 và bị cáo P cùng phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả sảy ra.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H1 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tích cực bồi thường một phần thiệt hại cho các gia đình bị hại. Mặt khác, bị hại Quách Công P1, Bùi Văn H6 và đại diện gia đình những bị hại đã chết có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Quá trình lao động sản xuất, bị cáo H1 được Chủ tịch UBND xã C, Hội Cựu chiến binh huyện K tặng nhiều Giấy khen; bị cáo là người dân tộc sinh sống ở vùng có điều kiện tế xã hội khó khăn nên nhận thức và hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được cấp sơ thẩm áp dụng.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu mới: Bị cáo trình bày gia đìnhcó hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có anh ruột Bùi Văn C3 là Liệt S1(có xác nhận của chính quyền địa phương), quá trình sinh sống tại địa phương đãtích cực đóng góp ủng hộ quỹ người nghèo, gia đình các bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sựmới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng để giảm mức hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có lý lịch và nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội luôn chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú,
Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC, Văn bản hợp nhất ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán – Toà án nhân dân tối cao,Bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 BLHS vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treocủa bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình.
Về án phí: Bị cáo H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, đ khoản 1 Điều 357 BLTTHS.Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treocủa bị cáo Bùi Văn H1. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số02/2025/HS-ST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình về hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn H1, cụ thể:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn H1 phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
- Giao bị cáo Bùi Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2025/HS-ST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí:Bị cáo Bùi Văn H1 khôngphải chịu án phí phúc thẩm.
Căn cứ điểm a, khoản 3 điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 54; điều 65 BLHS 2015, xử phạt bị cáo Bùi Văn H1 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng tình từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 03/4/2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hải |
Bản án số 15/2025/HS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 15/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Hờm phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động
