|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2025 V/v Tranh chấp ly hôn, con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoàng là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Trần Lê Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Bà Mai Thị Xuân T, sinh năm 1989; Địa chỉ cư trú: Số A T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Thái N, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú: Số A T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2025, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Mai Thị Xuân T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Xuân Thái N kết hôn với nhau vào năm 2008, có đăng ký tại UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (số 38 Quyển số I/2008 ngày 08/04/2008), hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình bà tại số A T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống đến giữa năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bị đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi nhau. Nay, bà T xác định không còn tình cảm với ông N và không thể tiếp tục sống chung với nhau, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà T xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Xuân Thái A, sinh ngày 05/6/2008 và Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 20/5/2013. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Ông N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Xuân Thái N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Mai Thị Xuân T về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình bà T tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà T thường đi chơi với bạn nhưng không nói cho ông biết, từ đó ông không tin tưởng bà T nên giữa vợ chồng có lời qua tiếng lại. Nay bà T yêu cầu ly hôn ông không đồng ý, ông mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành.
Về quan hệ con chung: Ông N xác nhận vợ chồng có 02 con chung như bà T trình bày. Trường hợp ly hôn, ông đồng ý với yêu cầu của bà T.
Về quan hệ tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Mai Thị Xuân T đối với ông Nguyễn Xuân Thái N về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị Xuân T được ly hôn ông Nguyễn Xuân Thái N.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Xuân Thái A, sinh ngày 06/6/2008 và cháu Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 20/3/2013 cho bà Mai Thị Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Xuân Thái N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Bà T và ông N không yêu cầu giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà T và ông N không yêu cầu giải quyết.
+ Về án phí: Bà Mai Thị Xuân T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2024 thì nguyên đơn khởi kiện về việc ly hôn và nuôi con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung".
[1.2] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Xuân Thái N hiện cư trú tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Xuân T và ông Nguyễn Xuân Thái N kết hôn với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (số 38 Quyển số I/2008 ngày 08/04/2008) trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Do đó, hôn nhân giữa bà T và ông N là hợp pháp. Tòa phiên tòa, bà T yêu cầu được ly hôn với ông N, còn ông N không đồng ý ly hôn. Xét thấy: Sau khi kết hôn, bà T và ông N sống chung với gia đình bà T tại phường H, quận C. Trong thời gian chung sống vợ chồng nhiều lần phát sinh mâu thuẫn và bà T đã nhiều lần gửi đơn ly hôn, sau khi được hòa giải bà T rút đơn. Đến giữa năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, theo bà T do ông N thường ghen tuông vô cớ, thường theo dõi và giám sát mọi sinh hoạt hằng ngày của bà; còn ông N cho rằng do những hành động của bà T làm cho ông không tin tưởng bà T, từ đó vợ chồng không có tiếng nói chung, không tin tưởng nhau nên thường xuyên có lời qua tiếng lại, ông mong muốn bà T cho ông cơ hội để vợ chồng hàn gắn nhưng bà T không cho ông cơ hội, hiện nay bà T và ông N không sống chung với nhau. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà T và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, cho bà T được ly hôn với ông N.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông N xác định vợ chồng bà có 02 con chung là Nguyễn Xuân Thái A, sinh ngày 05/6/2008 và Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 20/5/2013. Tại phiên tòa, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Ông N đồng ý với yêu cầu của bà T. Xét thấy ông N đồng ý giao 02 con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và 02 cháu Bảo T1 và Thái A cũng có nguyện vọng được ở với bà T. Do vậy, giao 02 con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Do bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Bà T và ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Bà T và ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Mai Thị Xuân T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Xuân T đối với ông Nguyễn Xuân Thái N về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị Xuân T được ly hôn ông Nguyễn Xuân Thái N.
- Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Xuân Thái A, sinh ngày 05/6/2008 và Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 20/5/2013 cho bà Mai Thị Xuân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Xuân Thái N không phải cấp dưỡng nuôi con chung
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Mai Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009517 ngày 20/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà Mai Thị Xuân T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bên không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa ông bà Mai Thị Xuân T và ông Nguyễn Xuân Thái N
