Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tuyển

2. Bà Đoàn Thụy Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 566/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo Q, sinh năm: 1997

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Tạ Quốc T, sinh năm 1997

Địa chỉ: Ấp X, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Chị Q và anh T đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15-3-2024 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo Q trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Tạ Quốc T chung sống với nhau từ năm 2021, có qua tìm hiểu trước, hôn nhân tự nguyện. Chị và anh T có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

Sau khi kết hôn, chị và anh T sống chung nhà với cha mẹ ruột anh T tại ấp X, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Đến tháng 02-2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cải nhau về tiền bạc và gia đình, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn và chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục sống chung với nhau nên quyết định sống ly thân. Chị về nhà cha mẹ ruột tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An sinh sống, còn anh T thì vẫn ở nhà cha mẹ ruột của anh T. Từ ngày sống ly thân đến nay, chị và anh T không gặp nhau để bàn bạc chuyện đoàn tụ. Tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh T.

Về nuôi con: Chị và anh T chung sống không có con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh T chung sống không có tài sản chung nên chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh T không có nợ ai và cũng không có ai nợ lại anh chị nên chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Tạ Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn nộp cho Tòa án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, chị Q đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, còn anh T thì chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thảo Q đối với anh Tạ Quốc T;

Về con chung: Anh chị không có con chung nên không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo Q có đơn xin vắng mặt, còn bị đơn anh Tạ Quốc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Nguyễn Thị Thảo Q và anh Tạ Quốc T là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Theo chị Q thì nguyên nhân là do mâu thuẫn về tiền bạc và gia đình dẫn đến thường xuyên cải nhau. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 02-2023 cho đến nay nhưng không ai có thiện chí để hàn gắn tình cảm.

Xét thấy, từ khi chị Q nộp đơn ly hôn đến nay, mặc dù có thông báo cho anh T biết và anh T đã được Tòa án triệu tập để thu thập chứng cứ, tham gia hòa giải và xét xử nhưng anh T vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Q và cũng không thể hiện thiện chí để đoàn tụ. Từ các chứng cứ trên cho thấy, mâu thuẫn của anh chị trở nên trầm trọng, anh T cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không còn đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q đối với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con: Chị Q khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Q và anh T đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị Q và anh T đều không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

[6] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thảo Q đối với anh Tạ Quốc T.

    Chị Nguyễn Thị Thảo Q được ly hôn với anh Tạ Quốc T.

  2. Về nuôi con: Không có nên không giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết.
  4. Về án phí sơ thẩm: Chị Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014743 ngày 08-11-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị Q đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Dầu;
  • - UBND xã Lộc Giang, H. Đức Hòa, T. Long An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về ly hôn

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn giữa Nguyễn Thị Thảo Quyên và Tạ Quốc Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger