Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

V/v Tranh chấp về ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh

Bà Phạm Thị Hồng Hạnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ không tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 50/2025/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Tạ Lệ K, sinh năm 1986/ có mặt.

Nơi cư trú: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Thẩm Đức C, sinh năm 1982/ có mặt.

Nơi cư trú: TDP T, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn chị Tạ Lệ K trình bày: Chị và anh Thẩm Đức C kết hôn với nhau tháng 11 năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện Đ, có được tự nguyện, có cưới hỏi. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được những năm đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh C không chăm lo làm ăn, vun vén làm ăn xây dựng hạnh phúc gia đình; vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hai người không còn sự hòa hợp nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết. Chị và anh C hiện đã sống ly thân được một thời gian, không ai còn quan tâm đến ai. Bản thân chị nhận thấy cuộc hôn nhân không còn hòa thuận, hạnh phúc, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục.

Nay chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thẩm Đức C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Thẩm Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 và Thẩm Hải Đ sinh ngày 04/7/2017. Khi ly hôn chị K nhận trực tiếp nuôi 02 con. Chị K không yêu cầu anh C phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, mà tùy trách nhiệm của anh cường đối với các con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Công nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Thẩm Đức C trình bày: Anh và chị Tạ Lệ K kết hôn với nhau tháng 11 năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, có được tự nguyện. Quá trình chung sống theo anh C vợ chồng không có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng vẫn có sự hòa hợp và không phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chỉ phát sinh những mâu thuẫn nhỏ mà gia đình nào cũng có và chưa đến mức phải ly hôn, tình cảm vợ chồng vẫn có thể hàn gắn. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng anh chưa nhất trí ly hôn với chị Tạ Lệ K vì còn một số vấn đề cá nhân cần thỏa thuận, giải quyết với chị K.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Thẩm Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 và Thẩm Hải Đ sinh ngày 04/7/2017. Nếu phải ly hôn anh C nhận trực tiếp nuôi con nếu con theo anh, không yêu cầu chị Tạ Lệ K phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Nếu con theo mẹ thì anh cũng đồng ý để chị K nuôi cả 02 con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Công nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải, xong các bên vẫn giữ nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Tạ Lệ K khởi kiện xin ly hôn với bị đơn là anh Thẩm Đức C, bị đơn đang cư trú tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn đến Tòa án trình bày bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Lệ K và anh Thẩm Đức C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được những năm đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Căn cứ lời khai của hai bên đương sự xác định được mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, anh C không tu chí làm ăn vun vén hạnh phúc gia đình, vợ chồng không còn sự hòa hợp và đã sống ly thân được một thời gian. Trong quá trình giải quyết, hòa giải tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay chị K đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và xin được ly hôn anh C. Còn anh C xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn và muốn chị K quay về đoàn tụ vợ chồng cùng nuôi dạy con chung. Tuy nhiên trong thời gian qua anh C không có động thái nào hòa giải đoàn tụ với chị K, không gặp gỡ nói chuyện, thuyết phục chị K rút đơn quay về chung sống với anh. Tại phiên tòa hôm nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nhưng anh chưa nhất trí ly hôn với chị Tạ Lệ K vì còn một số vấn đề cá nhân cần thỏa thuận, giải quyết với chị K. Hội đồng xét xử xét thấy chị Tạ Lệ K và anh Thẩm Đức C đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn, hai bên không còn tìm thấy sự đồng điệu, gắn bó, sẻ chia trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, hai người đã sống ly thân không còn khả năng đoàn tụ, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị K được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Tạ Lệ K được ly hôn anh Thẩm Đức C.

[3] Về con chung: Chị Tạ Lệ K và anh Thẩm Đức C có 02 con chung là Thẩm Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 và Thẩm Hải Đ sinh ngày 04/7/2017. Nếu ly hôn chị Tạ Lệ K có nguyện vọng trực tiếp nuôi 02 con, còn anh Thẩm Đức C cũng nhất trí để chị K nuôi cả 02 con. Xét thấy 02 con đang ở với chị Tạ Lệ K và chị K cũng có điều kiện nuôi con, có thời gian chăm sóc con nhỏ, các con đều có nguyện vọng theo mẹ. Do vậy, cần giao 02 con cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Hai bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Chị Tạ Lệ K và anh Thẩm Đức C xác định vợ chồng không có nợ chung.

[6] Về án phí: Chị Tạ Lệ K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 174, 177, 227, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56; 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Tạ Lệ K, cho chị Tạ Lệ K được ly hôn anh Thẩm Đức C.

[2]. Về con chung: Giao 02 con chung là Thẩm Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 và Thẩm Hải Đ sinh ngày 04/7/2017 cho chị Tạ Lệ K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Thẩm Đức C có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về nợ chung: Hai bên đương sự đều xác định không có.

[5]. Án phí: Chị Tạ Lệ K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007448 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

[6]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn là chị Tạ Lệ K và bị đơn là anh Thẩm Đức C biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - THADS huyện Đ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND TT H;
  • - Lưu VT, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Hữu Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Tạ Lệ K, cho chị Tạ Lệ K được ly hôn anh Thẩm Đức C. Về con chung: Giao 02 con chung là Thẩm Khánh L, sinh ngày 17/9/2007 và Thẩm Hải Đ sinh ngày 04/7/2017 cho chị Tạ Lệ K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Thẩm Đức C có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger