Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẤP VÒ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày 25 - 3 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

---

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Phước Tân.
  2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhựt Hồ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên tòa: Bà Từ Thị Minh Tuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 374/2024/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Anh Dương Trí H, sinh năm 1983. (Vắng mặt có đơn)
  • Địa chỉ: Số A, đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

  • Bị đơn: Chị Mai Ngọc D, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Anh Dương Trí H trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2005, anh H và chị D quen biết nhau rồi quyết định tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 08 năm, quá trình sống chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong cuộc

sống trầm trọng kéo dài. Nguyên nhân là do vợ chồng không đồng quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung, vợ chồng ít quan tâm chăm sóc nhau. Đến khoảng tháng 6 năm 2012, vợ chồng ly thân cho đến nay và không ai quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, lâu dần tình cảm vợ chồng phai nhạt. Anh H không còn tình cảm với gì với chị D, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị D.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Dương Trí H1, sinh ngày 16/7/2006 đã trưởng thành và Dương Trí N, sinh ngày 17/2/2009, hai con chung hiện tại đang do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H đồng ý giao con chung tên Dương Trí N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Mai Ngọc D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, bản photo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn và các văn bản tố tụng khác, nhưng bị đơn không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ và tiến hành thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Anh Dương Trí H chấp hành đúng quy định của pháp luật. Còn chị Mai Ngọc D vắng mặt là chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát huyện L, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 02 tháng 12 năm 2024 và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang chấp giữa các đương sự là: “Ly hôn,

tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Mai Ngọc D, địa chỉ: Số C, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, anh Dương Trí H có đơn xin xét xử vắng mặt và chị Mai Ngọc D vắng mặt không lí do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Trí H có đơn xin xét xử vắng mặt, còn chị Mai Ngọc D do được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lí do, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, anh Dương Trí H vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện cho rằng, anh Dương Trí H với chị Mai Ngọc D kết hôn vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, được công nhận là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Anh Dương Trí H cho rằng lúc còn sống chung với chị Mai Ngọc D thường xảy ra mâu thuẫn, do không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống nên đã ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nên anh Dương Trí H yêu cầu được ly hôn với chị Mai Ngọc D. Chị Mai Ngọc D vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Dương Trí H với chị Mai Ngọc D không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho anh Dương Trí H với chị Mai Ngọc D ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Anh Dương Trí H với chị Mai Ngọc D chung sống với nhau có 02 con chung tên Dương Trí H1, sinh ngày 16/7/2006 đã trưởng thành và Dương Trí N, sinh ngày 17/2/2009, hiện con chung đang sống với chị D. Anh Dương Trí H đồng ý giao con chung tên Dương Trí N cho chị Mai Ngọc D tiếp tục nuôi dưỡng. Nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Dương Trí N cho chị Mai Ngọc D tiếp tục nuôi dưỡng.

Anh Dương Trí H và chị Mai Ngọc D có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không bên nào được bên nào ngăn cấm. Sau khi ly hôn anh Dương Trí H được quyền thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Ngọc D vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến và không có yêu cầu anh Dương Trí H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Dương Trí H với chị Mai Ngọc D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Dương Trí H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Anh Dương Trí H nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, ĐIều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Dương Trí H. Cho anh Dương Trí H ly hôn với chị Mai Ngọc D.

2. Về con chung: Chị Mai Ngọc D tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Dương Trí N, sinh ngày 17/2/2009, hiện con chung đang sống với chị Mai Ngọc D. Anh Dương Trí H không cấp dưỡng nuôi con chung tên Dương Trí N.

Anh Dương Trí H và chị Mai Ngọc D có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Dương Trí N không bên nào được quyền ngăn cấm. Anh Dương Trí H được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

- Anh Dương Trí H nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0001602, ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

6. Về quyền kháng cáo: Anh Dương Trí H và chị Mai Ngọc D vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - THA dân sự huyện;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hữu Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Vào năm 2005, anh H và chị D quen biết nhau rồi quyết định tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2006 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 08 năm, quá trình sống chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống trầm trọng kéo dài. Nguyên nhân là do vợ chồng không đồng quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung, vợ chồng ít quan tâm chăm sóc nhau. Đến khoảng tháng 6 năm 2012, vợ chồng ly thân cho đến nay và không ai quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, lâu dần tình cảm vợ chồng phai nhạt. Anh H không còn tình cảm với gì với chị D, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn với chị D. Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Dương Trí H1, sinh ngày 16/7/2006 đã trưởng thành và Dương Trí N, sinh ngày 17/2/2009, hai con chung hiện tại đang do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H đồng ý giao con chung tên Dương Trí N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và không đồng ý cấp dưỡng nuôi con. - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger