Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-03 – 2025.

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Ngọc Minh

- Ông Lê Quang Chính

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXX-ST, ngày 10-02-2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03 ngày 25-02-2025 giữa.

Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc T - sinh năm: 1992 (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Khắc D - sinh năm: 1996 (vắng mặt),

Cùng địa chỉ: L, P, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà T trình bày:

Bà T với ông ông D tự tìm hiểu về sống với nhau năm 2019, hai bên gia đình đồng ý không tổ chức lễ cưới và có đến UBND xã P đăng ký kết hôn năm 2021.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến khoảng tháng 3 năm 2024 xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà T, ông D chung sống thường xảy ra cãi vã, không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay không có trách nhiệm với nhau, không quan tâm đến nhau.

Nay bà T xét thấy tình cảm giữa bà với ông D không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông D.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 03-11-2021 hiện nay bà T đang nuôi và bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có.

Về thu nhập: Bà T công tác tại Công ty I thu nhập hàng tháng 18.000.000 đồng.

Về phía bị đơn: Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng, nhưng ông D không có mặt tại Tòa án vào các lần triệu tập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà T được ly hôn ông D.

Về con chung: Đề nghị giao 01 con chung cho bà T chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung"
  2. Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  3. Xét về hôn nhân: Bà Phan Thị Ngọc T, ông Nguyễn Khắc D tự tìm hiểu về chung sống có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn năm 2021 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến tháng 3 năm 2024 xảy ra xích mích không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng sống ly thân, không quan tâm đến nhau, không có trách nhiệm với nhau.

Nay bà T xét thấy tình cảm giữa bà với ông D không còn, bà yêu cầu được ly hôn ông D là có căn cứ.

Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết bà T, ông D đã sống ly thân.

Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T, ông D cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà T xin ly hôn ông D là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

  1. Xét về con chung: Có 01 chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 03-11-2021 từ nhỏ đến nay bà T là người trực tiếp chăm sóc, hiện nay bà T đang nuôi và bà yêu cầu được tiếp tục nuôi là phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 1 con chung.
  2. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn khai không có,
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết,
  4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 38, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí";

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phan Thị Ngọc T, bà Phan Thị Ngọc T được ly hôn ông Nguyễn Khắc D.

Về con chung: Giao cho bà Phan Thị Ngọc T được tiếp tục nuôi 1 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 03-11-2021 (con chung hiện nay bà T đang chăm sóc, nuôi dưỡng).

Ông Nguyễn Khắc D có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung bà Phan Thị Ngọc T là người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông D trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn khai không có.

Về án phí: Buộc bà Phan Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Phan Thị Ngọc T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004587 ngày 07-10-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Báo cho nguyên đơn có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24-03-2025). Riêng bị đơn được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Ngọc M; Lê Quang Chính

Đoàn S

- Nơi nhận:

- TAND tỉnh Ninh Thuận;

- VKSND huyện Ninh Phước;

- THADS huyện N;

- UBND xã P (để biết);

- Các đương sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger