|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày 24 tháng 02 năm 2025 V/v : “Tranh chấp hôn nhân và gia đình.” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa Phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phẩm;
Bà Bùi Thị Hảo.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 09/2025/QĐ-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Ngọc H, sinh năm 1988;
Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L3;
Địa chỉ trụ sở: Thửa đất 244, tờ bản đồ số 15 phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Địa chỉ chi nhánh thường trực: Số nhà 2350B Đại Lộ Hùng Vương, phường Vân Cơ, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Những người được đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn phân công giải quyết:
- Bà Vũ Thị H1 – Luật sư
- Bà Đỗ Minh N – Luật sư
- Bà Đoàn Thị Hồng V – Chuyên viên
- Bà Trần Thị Ngọc Á – Chuyên viên
Đều thuộc Công ty L3;
Địa chỉ trụ sở: Thửa đất 244, tờ bản đồ số 15 phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Địa chỉ chi nhánh thường trực: Số nhà 2350B Đại Lộ Hùng Vương, phường Vân Cơ, thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
1
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng L, sinh năm 1987;
Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Hiện đang ở Đài Loan (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956;
Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn chị Đỗ Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hồng L có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/11/2009 tại UBND xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Năm 2018, anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ khi đi anh Lưu K quan tâm, không liên lạc với chị H mặc dù chị H đã chủ động liên lạc nhưng không được. Đến nay chị không biết anh L làm gì, ở đâu. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị xác định, vợ chồng anh chị có hai con chung là Nguyễn Đỗ Hà L2, sinh ngày 16/8/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/10/2020. Sau khi ly hôn chị xin được nuôi cháu Nguyễn Gia B, anh L được nuôi cháu L2, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Vì lý do anh Lưu K có mặt ở nhà nên chị đồng ý nhờ bố mẹ anh L chăm sóc cháu L2 thay anh L.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay chị và anh Lưu K còn liên lạc với nhau, chị không biết anh L ở đâu và không còn số điện thoại của anh L nên chị H không thể cung cấp địa chỉ nơi cư trú của anh L cho Tòa án được. Chị được biết anh L vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ là ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị S nên chị đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu về địa chỉ của anh L.
Tại biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị S, địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 14/01/2025, ông L1, bà S trình bày:
Ông bà là bố mẹ đẻ của anh L, hiện anh L đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài và thường xuyên liên lạc về nhà bằng điện thoại, tuy nhiên ông bà không biết địa chỉ cụ thể của anh L. Ông bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án đang giải quyết việc ly hôn của anh L và chị H, ông bà đã thông báo cho anh L. Anh L có quan điểm: do điều kiện công việc nên không thể về tham gia giải quyết tại Toà án được, anh L đồng ý ly hôn với chị H. Về con chung: anh L sẽ trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là cháu L2, còn chị H sẽ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B, không ai phải cấp dưỡng cho nhau. Trong thời gian anh đi làm việc ở nước ngoài thì sẽ nhờ bố mẹ đẻ anh chăm sóc. Về tài sản chung, nợ chung: không đề nghị Toà án giải quyết. Ông bà đồng ý nuôi dưỡng cháu L2 trong lúc anh L đi nước ngoài, nhận các văn bản tố tụng của Toà án và sẽ thông báo lại cho anh L.
Ngày 14/01/2025, cháu Nguyễn Đỗ Hà L2, sinh ngày 16/8/2010, là con chung của chị H, anh L có bản tự khai với nội dung: sau khi bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng muốn ở với bố là anh L. Hiện nay cháu đang sống ổn định cùng với
2
ông bà nội là ông L1, bà S. Trong thời gian bố cháu đi làm việc ở nước ngoài, cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng ông bà nội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ đề nghị HĐXX:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Hồng L.
- - Về con chung: giao cháu Nguyễn Đỗ Hà L2, sinh ngày 16/8/2010 cho anh L trực tiếp chăm sóc giáo dục và giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/10/2020 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi các cháu thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Trong thời gian anh L đi làm việc ở nước ngoài thì sẽ tạm giao cháu L2 cho bố mẹ đẻ anh L là ông L1 bà S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
- - Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa.
[1] Về tố tụng: Chị Đỗ Thị Ngọc H nộp đơn xin ly hôn anh Nguyễn Hồng L tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. Trong đơn ly hôn chị H trình bày anh L hiện nay đang ở nước ngoài. Theo Công văn số 214588/QLXNC-P3 ngày 18/9/2024 của Cục Q1 – Bộ C cung cấp: “Nguyễn Hồng L, sinh ngày 02/3/1987, có thông tin xuất cảnh nhiều lần (3 lượt), lần cuối xuất cảnh ngày 04/01/2024 qua cửa khẩu N1 bằng hộ chiếu số C3852105, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Ngọc H và anh Nguyễn Hồng L trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 18/11/2009 tại UBND xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H về làm dâu ngay nhà anh L. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2018, anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và hiện nay đang ở nước ngoài, chị H chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam, không cung cấp được địa chỉ của anh L ở nước ngoài cho Tòa án. Ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị S là bố mẹ đẻ anh L xác nhận anh L hiện nay đang ở Đài Loan, anh L vẫn liên lạc với gia đình nhưng không nói rõ địa chỉ cụ thể tại Đài Loan nên ông, bà không cung cấp được địa chỉ của anh L tại Đài Loan cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao đây thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
3
Từ khi đi anh L đi nước ngoài không quan tâm, không liên lạc với chị H mặc dù chị H đã chủ động liên lạc nhưng không được. Đến nay chị không biết anh L ở đâu, làm gì. Do anh L đang ở nước ngoài nên anh chị không có điều kiện gần gũi để giải quyết mâu thuẫn khắc phục tình trạng hôn nhân. Về phía anh L, thông qua bố mẹ đẻ là ông L1, bà S thì anh cũng nhất trí ly hôn với chị H. Do vậy, cần xác định bản thân giữa hai người không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình là phù hợp.
[2] Về con chung: Vợ chồng anh L, chị H có hai con chung là Nguyễn Đỗ Hà L2, sinh ngày 16/8/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/10/2020. Sau khi ly hôn chị H xin được nuôi cháu Nguyễn Gia B, anh L được nuôi cháu L2, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lí do anh Lưu K có mặt ở nhà nên chị đồng ý nhờ bố mẹ anh L chăm sóc cháu L2 thay anh L. Anh Lưu thông Q gia đình cho biết nhất trí với yêu cầu của chị H, anh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là cháu L2, còn chị H sẽ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Cháu L2 cũng có nguyện vọng sau khi ly hôn sẽ ở cùng với bố là anh L, trong thời gian anh L đi nước ngoài thì cháu ở với ông bà nội là ông L1, bà S. Quan điểm của ông L1, bà S cũng đồng ý nuôi cháu L2 trong thời gian anh L ở nước ngoài và không yêu cầu anh L, chị H phải cấp dưỡng nuôi cháu L2 cùng ông bà.
Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, các đương sự thống nhất quan điểm về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn. Do vậy, cần giao cháu L2 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, còn chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Trong thời gian anh L làm việc ở nước ngoài thì sẽ tạm giao cháu L2 cho bố mẹ đẻ anh L là ông L1 bà S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L2. Khi nào anh L về nước, ông L1, bà S có trách nhiệm giao cháu L2 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
[3] Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị H xác định không có công sức gì, đóng góp gì cùng gia đình anh L nên không yêu cầu gì, không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: chị Đỗ Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Điều Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Ngọc H được ly hôn anh Nguyễn Hồng L
4
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đỗ Hà L2, sinh ngày 16/8/2010 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/10/2020 cho chị H được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu thành niên, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Trong thời gian anh L đi làm việc ở nước ngoài thì sẽ tạm giao cháu L2 cho bố mẹ đẻ anh L là ông L1 và bà S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
Khi nào anh L về nước, ông L1 và bà S có trách nhiệm giao cháu L2 cho anh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không đặt ra xem xét giải quyết
4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0000355 ngày 04/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Đương sự ở trong nước vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a,7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hà Giang |
5
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
