|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vĩnh;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Luận;
Bà Nguyễn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: ông Võ Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gio Linh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Hoàng Xuân Q, sinh năm 1990;
Địa chỉ: thôn H, xã G (nay là khu phố H, thị trấn G), huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1995;
Địa chỉ: thôn H, xã G (nay là khu phố H, thị trấn G), huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 12 năm 2024 và tại phiên toà nguyên đơn anh Hoàng Xuân Q trình bày: anh Hoàng Xuân Q và chị Nguyễn Thị Liên kết H trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị vào ngày 17/4/2017. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống chung tại thôn H, xã G (nay là khu phố H, thị trấn G), huyện G, tỉnh Quảng Trị. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp nhau hay cải vả nhau bất đồng quan điểm sống và vợ chồng đã sống ly thân. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân trầm trọng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh Q có nguyện vọng được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: cháu Hoàng Nguyễn My N, sinh ngày 06/7/2018. Nếu ly hôn, anh Hoàng Xuân Q có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Nguyễn My Na . Không yêu cầu chị Nguyễn Thị L phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1
Tại bản trình bày ý kiến ngày 15/01/2025, chị Nguyễn Thị L trình bày: Việc kết hôn như anh Hoàng Xuân Q trình bày là đúng. Chị L thừa nhận trong quá trình sống chung thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hay cải vả nhau. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị L đồng ý ly hôn anh Hoàng Xuân Q.
Về con chung: cháu Hoàng Nguyễn My N, sinh ngày 06/7/2018. Nếu ly hôn, chị Nguyễn Thị L có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Nguyễn My Na . Không yêu cầu anh Hoàng Xuân Q phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh trình bày ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các bước đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 bà 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa anh Hoàng Xuân Q và chị Nguyễn Thị L là hợp pháp. Mâu thuẩn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51; Điều 55 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Xuân Q, xử cho anh Q được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: căn cứ các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Hoàng Nguyễn My N, sinh ngày 06/7/2018 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục, anh Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: anh Hoàng Xuân Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: anh Hoàng Xuân Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với chị Nguyễn Thị L, chị L cư trú tại thôn H, xã G (nay là khu phố H, thị trấn G), huyện G, tỉnh Quảng Trị là quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Hoàng Xuân Q và chị Nguyễn Thị L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị vào ngày 17/4/2017, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Anh Q và chị L đều thừa nhận trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn, thường xuyên cãi vã bất đồng quan điểm, quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng nên đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2024 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy hôn nhân giữa anh Hoàng Xuân Q và chị Nguyễn Thị L đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng trên thực tế không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào
2
khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Hoàng Xuân Q được ly hôn và chị Nguyễn Thị L.
[3] Về con chung: Xét điều kiện của các bên đương sự về nguyện vọng được trực tiếp nuôi duõng con, thấy rằng:
Theo Đơn xin xác nhận thu nhập cá nhân lập ngày 10/02/2025, chị L có mở tiệm Salon tốc và kèm thêm giặt là từ tháng 6 năm 2017 cho đến nay tại thôn H, xã G (nay là khu phố H, thị trấn G), huyện G, tỉnh Quảng Trị và đây cũng là nơi ở hiện tại của chị và cháu N. Các bên đương sự đều thừa nhận địa điểm này thuộc sở hữu của bố mẹ đẻ anh Q; Hợp đồng lao động lập ngày 25/3/2025 giữa người sử dụng lao động bà Trương Thị Tuyết N1 lao động chị Nguyễn Thị L với nhiệm vụ công việc nhân viên bán hàng bắt đầu từ ngày 01/6/2025 với mức lương cơ bản 200.000 đồng/ngày và các khoản thưởng lễ, tết. Tuy nhiên, chị L thừa nhận đến nay quan hệ lao động này chưa được xác lập trên thực tế, chị L cho rằng đến ngày 01/7/2025 sau khi giải quyết xong việc ly hôn chị sẽ chuyển vào làm việc tại Cơ sở kinh doanh của bà T tại địa chỉ số A, đường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giấy ủy quy ền lập ngày 17/02/2025 giữa bên ủy quyền ông Nguyễn Hữu C bên được ủy quyền chị Nguyễn Thị L được quyền rút tiền lãi theo định kỳ, rút toàn bộ thẻ tiết kiệm khi đến hạn, rút trước toàn bộ số tiền gửi theo số seri thẻ tiết kiệm AC00044127349 số tài khoản 39056L5032426 với số dư khi mở thẻ tiết kiệm là 160.000.000 đồng (một trăm sáu mươi triệu đồng) để chứng minh mình có khoản tiền đảm bảo xây dựng nơi ở mới sau khi ly hôn. Tuy nhiên, số tiền này vẫn thuộc quyền sở hữu của ông C; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 31/3/2025 bên tặng cho ông Nguyễn Đức C1 và bà Ngô Thị T1 bên được tặng cho chị Nguyễn Thị L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 370706 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Q cấp ngày 14/01/2022, cập nhật thay đổi vào ngày 12/02/2025. Cho thấy, sau khi ly hôn cuộc sống của chị L có nhiều thay đỗi, chưa có chổ ở, nơi làm việc và thu nhập ổn định đảm bảo các điều kiện để cháu N được nuôi dưỡng học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Cho nên, ý kiến của bị đơn chị Nguyễn Thị L và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh về việc giao nuôi dưỡng cháu Hoàng Nguyễn My N không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại Bảng tổng hợp các khoản thu nhập năm 2024 và tháng 01/2025 đề ngày 24/02/2025 của Công ty TNHH MTV C2 thể hiện của anh Q có thu nhập từ lương tháng 01/2025 là 11.786.760 đồng và thu nhập từ lương, thưởng, các thu nhập khác của năm 2024 hơn 110.000.000/năm, thấy rằng anh Q có công việc và thu nhập ổn định; Giấy xin xác nhận lập ngày 24/02/2025 hiện tại anh Hoàng Xuân Q có nơi ở đảm bảo, hiện đang sống chung với bố mẹ đẻ, là nơi trước đây cháu N thường xuyên sinh sống.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào điều kiện thực tế của các bên đương sự, quyền lợi về mọi mặt của con cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Q giao cháu Hoàng Nguyễn My N, sinh ngày 06/7/2018 cho anh Hoàng Xuân Q được trực tiếp trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc anh Q không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên cũng được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: anh Hoàng Xuân Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 55; các Điều 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Xuân Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Hoàng Xuân Q được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
2. Về con chung: giao cháu Hoàng Nguyễn My N, sinh ngày 06/7/2018 cho anh Hoàng Xuân Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Nguyễn Thị L không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở quyền này.
3. Về án phí: anh Hoàng Xuân Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Ký hiệu: BLTU/2023, số 0000414 ngày 31/12/2024 của Chị cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (anh Q đã nộp đủ án phí).
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Vĩnh |
4
5
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn
