TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 01 - 2025
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Tuyên
- Bà Mai Thị Tiếp
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H năm: 2002
- Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thành phố T (trước đây là huyện Đ), tỉnh Thanh Hóa.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Duy K Sinh năm: 2000
- Địa chỉ: Phố V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà có mặt chị H1, anh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/09/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Thanh H1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Duy K kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 23/02/2024 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ không hoà thuận hạnh phúc và xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng có những suy nghĩ trái ngược nhau, quan điểm về cuộc sống không còn tương đồng, bản thân mỗi người không thể thay đổi cách sống để phù hợp với cuộc sống của người kia. Chị và anh K đã sống ly thân với nhau từ tháng 4/2024 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.
Về con cái: Vợ chồng không có con chung. Chị H1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Chị H1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 08/10/2024 và tại phiên toà, anh Nguyễn Duy K trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì, đến tháng 4/2024, chị H1 bỏ ra ngoài để ở mà không bàn bạc, xin phép ai, anh và hai bên gia đình đã khuyên can nhiều nhưng chị H1 không nghe. Đến nay, anh nhận thấy vẫn còn tình cảm với chị H1, vợ chồng chưa có mâu thuẫn gì lớn nên anh đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng được đoàn tụ, tiếp tục chung sống.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Nguyễn Duy K không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh K theo quy định tại khoản 3 điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Anh K đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh K đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H1 và anh Nguyễn Duy K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/03/2022 tại UBND xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn là do hai bên không hợp tính cách, vợ chồng cũng đã sống ly thân với nhau từ tháng 4/2024 cho đến nay. Điều đó chứng tỏ chị H1, anh K đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị H1 được ly hôn anh K.
[3] Về con cái: Chị H1 và anh K không có con chung. Chị H1, anh K không yêu cầu nên miễn xét.
[4] Về tài sản: Chị H1, anh K không yêu cầu nên miễn xét.
[5] Về án phí: Chị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Thanh H1 được ly hôn Nguyễn Duy K.
- Về án phí: Chị Lê Thị Thanh H1 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá, theo biên lai số AA/2024/0001667 ngày 27/09/2024. Chị H1 đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị H1, anh K. Chị H1, anh K có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tân |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà | |
| Nguyễn Ngọc Tuyên | Mai Thị Tiếp | Nguyễn Thanh Tân |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
