Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚC YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

Số: 15/2025/HNGĐ - ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2025

“V/v: Ly hôn và chia con khi ly hôn".

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đường Ngọc Đại và bà Phan Thị Nhung.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2025/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc: Ly hôn và chia con khi ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn X, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 11 năm 2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân phường X vào ngày 05/10/2004. Sau ngày cưới, chị về làm dâu nhà anh H ngay. Quá trình chung sống, ban đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Đến giữa năm 2010 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do, trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung; chị nghi ngờ anh H có mối quan hệ với người khác ngoài hôn nhân, chơi bời dẫn đến nợ lần. Năm 2011, sau khi chị sinh cháu Nguyễn Huy H1 thì tình cảm vợ chồng ngày càng mẫu thuẫn trầm trọng, buộc chị phải đưa các con ra ngoài thuê nhà để sống. Vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2012 đến năm 2014 thì được hai bên gia đình giàn sếp nên chị lại đưa các con quay về sống cùng với anh H. Vợ chồng sống chung với nhau đến năm 2016, anh H bỏ đi làm ăn xa, thỉnh thoảng anh H có về thăm gia đình vợ con nhưng tuyệt đối không nói cho chị biết là anh đi làm ăn ở đâu. Năm 2019, anh H và chị xẩy ra mâu thuẫn nên chị tiếp tục đưa các con về nhà bố mẹ đẻ sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân nhau. Trong thời gian sống ly thân, cả chị và anh H đều chủ động cắt đứt liên lạc với nhau, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, bản thân anh H cũng bỏ mặc ba mẹ con chị không hỏi thăm động viên hay chia sẻ công việc gia đình với chị. Cuối năm 2024, anh H về nhà và thông báo cho chị biết anh H sẽ ly hôn với chị. Anh H có nói cho chị là anh đang làm ăn trong thành phố Hồ Chí Minh nhưng anh H không nói cho chị biết cụ thể địa chỉ làm việc của anh H ở đâu tại thành phố Hồ Chí Minh. Anh H yêu cầu chị làm thủ tục ly hôn với anh H, sau khi chị làm thủ tục xin ly hôn gửi ra Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên thì anh H lại bỏ đi làm ăn, hiện tại chị không biết anh H làm việc ở đâu, chị và anh H cắt đứt liên lạc với nhau. Tuy anh H không liên lạc với chị nhưng anh H vẫn thường xuyên liên lạc về với các con và bố mẹ của anh H ở nhà đồng thời vẫn thường xuyên về nhà thăm bố mẹ và các con, còn với chị thì anh H chủ động cắt đứt liên lạc hẳn nên thực tế chị không biết tin tức gì về anh H. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và không có thể hàn gắn lại được với nhau nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T xác định, vợ chồng có 02 con chung, cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 10/8/2005 và cháu Nguyễn Huy H1, sinh ngày 25/3/2011. Hiện tại, cả hai con chung đều đang ở với chị. Cháu Nguyễn Hoàng A đến nay đã trưởng thành nên ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn cháu H1, nguyện vọng của chị khi ly hôn là xin được nuôi cháu, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị.

Nguyện vọng của cháu Nguyễn Huy H1 xin được ở với mẹ.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng cho nên Toà án không thể lấy được lời khai của anh H.

Tại bản tự khai của cháu Nguyễn Hoàng A viết vào ngày 26/5/2025 thể hiện: Cháu là con của bố H và mẹ T, trong quá trình chung sống, bố mẹ cháu thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, khi bố mẹ cháu xảy ra mâu thuẫn thì bố cháu đã bỏ đi làm ăn xa không quan tâm gì đến mẹ cháu, nếu mẹ cháu có nói thì bố cháu chửi bới, xúc phạm, đánh đập mẹ cháu thậm tệ.

Kết quả xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện: Chị T và anh H kết hôn với nhau ngày 05/01/2004 tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố P. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cụ thể lý do vợ chồng chị T mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được. Hiện tại anh H và chị T đang sống ly thân với nhau và sống ly thân từ năm 2019. Chị T và các con hiện tại không còn sinh sống ở nhà anh H nữa mà về nhà bố mẹ đẻ của chị T sinh sống. Gia đình anh H hiện tại có bố mẹ đẻ anh H (ông T1, bà X) đang sinh sống tại tổ dân phố B, phường Đ, thành phố P. Tại thời điểm Tòa án xác minh, anh H đang đi làm ăn xa, không có mặt ở địa phương, chính quyền địa phương không nắm được hiện tại, anh H đang làm ăn ở đâu nhưng thấy anh H vẫn thường xuyên về nhà thăm nhà và thăm bố mẹ của mình.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với các đương sự thì nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, còn bị đơn đã vi phạm các quy định của Bộ T3, không có mặt tham gia đầy đủ các buổi làm việc trong quá trình gia tố tụng tại Toà án. Tuy nhiên, Toà án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn nên Viện kiểm sát không có kiến nghị khắc phục gì.

- Về đường lối giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T và cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Giao cho chị T được quyền tiếp tục trông nom nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Huy H1, sinh ngày 25/3/2011. Do cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 10/8/2005 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị T và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Sau này, nếu anh H muốn chuyển dịch quyền nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

- Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn, khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H. Hiện tại, mặc dù anh H không có mặt ở địa phương nhưng anh H vẫn có hộ khẩu thường trú tại phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về ly hôn, theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cho nên Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự.

- Anh Nguyễn Văn H là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Chị Nguyễn Thị T xác định, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh H không còn và không thể hàn gắn lại được với nhau nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị T và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc vào ngày 05 tháng 10 năm 2004 tại Ủy ban nhân dân phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc nên cần xác định đây là cuộc hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống, theo chị T2 trình bày thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do, trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng sống thiếu niềm tin với nhau và sống thiếu sự quan tâm chia sẻ. Chị T xin ly hôn, tuy anh H không có mặt ở nhà nhưng Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng gửi cho anh H, đúng quy định. Gia đình anh H có biết việc chị T xin ly hôn, nhưng gia đình anh H không thông báo cho anh H về Tòa án để giải quyết việc xin ly hôn của chị T. Vợ chồng sống ly thân với nhau thời gian quá dài, nhưng cả chị T và anh H đã bỏ mặc, sống buông xuôi, không ai chủ động tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm. Trong thời gian sống ly thân, cả hai người đều chủ động cắt đứt mọi liên lạc với nhau, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Điều này chứng tỏ, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh H đã dạn nứt đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở nên căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và cho chị T được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T xác nhận, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 10/8/2005 và cháu Nguyễn Huy H1, sinh ngày 25/3/2011. Hiện tại, cả hai con đều đang ở với chị T. Cháu Nguyễn Hoàng A đến nay đã trưởng thành nên ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, ly hôn, nguyện vọng của chị xin được nuôi cháu H1, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị.

Nguyện vọng của cháu Nguyễn Huy H1, xin được ở với mẹ.

Xét thấy: Việc nuôi dạy và chăm sóc con vừa là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Nguyện vọng của chị T xin được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H1, hiện tại anh H vắng mặt. Toà án không lấy được lời khai của anh H, nguyện vọng của cháu H1 xin được ở với mẹ. Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, thấy rằng nguyện vọng của chị T và cháu H1 phù hợp với hoàn cảnh sống của gia đình chị T hiện nay đồng thời tránh làm sáo trộn tâm lý của con; phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử cần giao cho chị T được quyền tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu H1. Sau này, nếu anh H có nguyện vọng xin dịch chuyển quyền nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc con chung của anh H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên./.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51; 56; 57; 81; 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được quyền tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Huy H1, sinh ngày 25/3/2011 (giới tính: Nam). Anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị T và có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tián phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0004241 ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Xác nhận, chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Bích Hạnh

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Phúc Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Phúc Yên;
  • - Ủy ban nhân dân phường Xuân Hoà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bích Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ - ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn và chia con khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và chia con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và chia con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger