|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 6 - 2025
Về việc: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bá Thiệp; bà Nguyễn Thị Bích Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 58/2025/TLST-HNGĐ ngày 25/4/2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 27/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025 ngày 10/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thùy D, sinh năm 1988.
HKTT: Số 16/44 đường Trưng Nhị, phường Lê Lợi, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Nơi ở: Số 64 Bắc Thành, phường Lê Lợi, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.
Bị đơn: Anh Phạm Văn L, sinh năm 1987.
HKTT: Đội 9, Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Cháu Phạm Lê Đức A, sinh ngày 25/11/2010.
Cháu Phạm Đức P, sinh ngày 28/7/2013.
Đại diện theo pháp luật cho các cháu là chị D và anh L (bố mẹ đẻ).
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1967. Trú tại: Đ, Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Bà Đỗ Thị X, sinh năm 1961. Trú tại: Số F B, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D trình bầy:
Chị và anh Phạm Văn L kết hôn trên cơ sở được tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 08/7/2010 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Sau kết hôn vợ chồng ở cùng bố mẹ anh L tại phường L, thành phố H. Chị bán hàng nước tại Đền T thành phố H, còn anh L lái xe taxi, làm nhiều nghề tự do. Vợ chồng sống không hạnh phúc, vì anh L chơi bời, nghiện hút, đi làm nhưng không đưa tiền cho chị nuôi con. Vợ chồng hay cãi nhau. Năm 2013 chị sinh cháu thứ 2, sau đó chị mang cả hai cháu về nhà đẻ ở. Tháng 12/2026 chị đi xuất khẩu lao động bên Đài Loan, nên cháu lớn gửi cho ông bà nội và anh L nuôi dưỡng, cháu nhỏ gửi ông bà ngoại nuôi dưỡng. Thời gian bên Đài Loan, chị và anh L không liên lạc quan tâm gì đến nhau. Chị nghe thấy mẹ đẻ nói lại anh L bị Tòa án xử tù về tội Trộm cắp tài sản. Tháng 3/2025 chị về nước xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh L. Chị xin ly hôn anh.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phạm Lê Đức A, sinh ngày 25/11/2010 và Phạm Đức P, sinh ngày 28/7/2013. Cháu P bị bại liệt từ nhỏ nên không đi học. Khi ly hôn chị nhận nuôi cháu P, chị tự nguyện không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi cháu P cùng chị đến khi cháu tự lập được. Cháu Đức A để anh L nuôi, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có, chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Phạm Văn L đến làm việc nhưng anh không đến. Tòa án cũng đã trực tiếp đến nhà nhưng anh không có nhà, mẹ đẻ anh là bà Nguyễn Thị K nhận thay anh các văn bản tiến hành tố tụng của Tòa án và có thông báo lại cho anh biết nhưng anh không đến. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Phạm Đức P bị bệnh từ nhỏ, không đi học và không đi lại được, đang được hưởng trợ cấp xã hội. Do vậy, Tòa án không lấy được lời khai của anh L và cháu P và cũng không tiến hành hòa giải được cho chị D và anh L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Phạm Lê Đức A trình bày: Nhiều năm nay cháu không ở với mẹ, vì mẹ đi nước ngoài. Nay, mẹ D xin ly hôn bố L, cháu có nguyện vọng ở với bố.
Người làm chứng bà Đỗ Thị X trình bày: Bà là mẹ đẻ chị D, mẹ vợ anh L. Vợ chồng chị D sau kết hôn chung sống cùng bố mẹ anh L khoảng 02 năm, sau đó chị D mang cả hai con về nhà bà, nói là vợ chồng hay cãi nhau vì không có kinh tế, anh L chơi bời. Năm 2016, chị D đi lao động bên Đài Loan để cháu thứ hai cho vợ chồng bà chăm sóc. Cháu bị bại liệt từ nhỏ, không đi lại được, không tự vệ sinh ăn uống, không đi học, phải có người chăm sóc. Thời gian bên Đài Loan, vợ chồng chị D không quan tâm liên lạc gì với nhau. Bà có nghe thấy anh L bị Tòa án xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản. Tháng 3/2025 chị D về nước. Việc chị D xin ly hôn anh L và nhận nuôi cháu thứ hai. Bà đề nghị Tòa án sớm giải quyết ly hôn cho anh chị để chị D ổn định cuộc sống sau này. Gia đình bà không có tài sản, nợ chung với vợ chồng chị.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị K trình bày: Bà là mẹ đẻ anh L, mẹ chồng chị D. Sau khi cưới, vợ chồng chị D ở cùng gia đình bà. Anh L bị nghiện ma túy từ khi nào gia đình không biết. Sau khi chị D sinh cháu thứ 2 được 01 tháng chị cho con về nhà đẻ ở. Bà có khuyên bảo chị quay về nhưng chị cương quyết không về vì anh L nghiện. Gia đình bà đã đưa anh L đi cai nghiện được 01 năm. Năm 2016, chị D đi xuất khẩu lao động. Anh L có gọi điện cho chị nhưng chị chặn máy nên anh chị không liên lạc với nhau nữa. Anh L bị Tòa án thành phố H xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tháng 9/2024, anh chấp hành xong án về gia đình sinh sống, đi làm phụ xe bốc vác thuê. Chị D xin ly hôn thì tùy anh quyết định. Cháu Đức A ở với ông bà từ nhỏ, bà không yêu cầu chị D phải trả công sức chăm nuôi cháu, nhưng chị phải hiểu mà biết cách cư xử với gia đình bà và cháu. Vợ chồng anh L không có tài sản chung với gia đình bà.
Tòa án đã mở phiên tòa ngày 10 tháng 6 năm 2025, bị đơn anh Phạm Văn L vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay: Chị Lê Thị Thùy D có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh Phạm Văn L vắng mặt lần 2 không có lý do, vì vậy HĐXX căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự.
- Quan điểm của đại diện VKSND thành phố Hưng Yên:
+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên đã chấp hành nghiêm chỉnh trình tự thủ tục kể từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xử cho đến quá trình xét xử. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71, 73, 78 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị HĐXX tuyên xử chị D được ly hôn anh L; giao cháu Đức A cho anh L nuôi dưỡng, giao cháu P cho chị D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng; tài sản chung chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết; chị D phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị Thùy D yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Phạm Văn L có nơi cư trú: Đội 9, Đ, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân”.
Nguyên đơn chị Lê Thị Thùy D có đơn xin xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh L theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thùy D và anh Phạm Văn L kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên ngày 08/7/2010, như vậy hôn nhân giữa chị D và anh L là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị D: Chị và gia đình hai bên cùng đại diện thôn xóm đều khẳng định cuộc sống vợ chồng anh chị có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh L chơi bời, nghiện hút ma túy nên kinh tế chung vợ chồng khó khăn. Năm 2013 chị D và con về nhà đẻ ở. Năm 2016 chị đi lao động bên Đài Loan, vợ chồng sống xa nhau, tình cảm liên lạc quan tâm đến nhau không có. Chị D không biết anh L bị xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 17/2024/HS-ST ngày 15/03/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, nay đã chấp hành xong án. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L không đến Tòa án bày tỏ quan điểm về việc chị D xin ly hôn, chứng tỏ anh L cũng không thiết tha cuộc sống vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy anh chị đã sống ly thân và xa nhau nhiều năm nay, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, kinh tế không chung, mâu thuẫn tình cảm đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc chị D xin ly hôn anh L là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[2.3] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Lê Đức A, sinh ngày 25/11/2010 và Phạm Đức P, sinh ngày 28/7/2013. Mặc dù anh L không đến Tòa án làm việc nên không xác định được quan điểm anh về con chung, nhưng nguyện vọng của cháu Đức A được ở với anh. Chị D nhận nuôi cháu P. Hội đồng xét xử nhận thấy giao cháu Đức A cho anh L nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế cháu ở với anh và ông bà nội từ nhỏ và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu. Cháu P bị bệnh từ nhỏ giao cho chị D nuôi dưỡng là phù hợp do cháu ở với ông bà ngoại từ bé và hiện nay chị D đang ở cùng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Nếu anh L không nhất trí về cấp dưỡng nuôi con chung, hoặc có yêu cầu khác về nuôi con, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[2.4] Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu giải quyết. Anh L không đến Tòa nên HĐXX không biết quan điểm của anh về tài sản chung. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị Thùy D phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thùy D được ly hôn anh Phạm Văn L.
[2]. Về con chung: Giao cháu Phạm Lê Đức A, sinh ngày 25/11/2010 cho anh Phạm Văn L nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Giao cháu Phạm Đức P, sinh ngày 28/7/2013 cho chị Lê Thị Thùy D nuôi dưỡng đến khi cháu tự lập được, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng. Anh L và chị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Nếu anh L không nhất trí về cấp dưỡng nuôi con chung, hoặc có yêu cầu khác về nuôi con, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[3]. Về tài sản: Chị D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp, sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[4]. Về án phí: Chị Lê Thị Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0000690 ngày 25/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị D đã nộp đủ án phí.
[5]. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Bích Thu Nguyễn Thị Bá Thiệp |
Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dung -Luân
