|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày 17 – 3 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thanh Vy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tấn Phát
Bà Lê Thị Thúy Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng, Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh tham gia phiên
tòa: Bà Võ Lê Trúc Phương - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 528/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Minh H, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Khu phố N, phường N1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Phạm Anh T, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu phố N, phường N1, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Minh H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Phạm Anh T chung sống với nhau từ năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N1, thành phố T. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do ông T không quan tâm, lo lắng cho gia đình, thường xuyên uống rượu, vợ chồng không còn tôn trọng và tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Phạm Ngọc Như X, sinh ngày 27/8/2009; Phạm Ngọc Huyền N, sinh ngày 04/8/2006; Phạm Ngọc Cát T, sinh ngày 20/11/2014. Hiện cháu N đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không yêu cầu giải quyết. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phạm Ngọc Như X, Phạm Ngọc Cát T, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Phạm Anh T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng bị đơn không đến Tòa án tham gia tố tụng trong vụ án và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, xác định thẩm quyền, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo đúng thành phần Hội đồng xét xử, phạm vi xét xử, trình tự thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Minh H, bà Lê Minh H và ông Phạm Anh T được ly hôn.
Về con chung: Con chung Phạm Ngọc Huyền N, sinh ngày 04/8/2006 đã thành niên, tự lao động sinh sống được, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Giao cháu Phạm Ngọc Như X, sinh ngày 27/8/2009; Phạm Ngọc Cát T, sinh ngày 20/11/2014 cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà H không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Ông Phạm Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do, bà Lê Minh H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự là phù hợp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Minh H, ông Phạm Anh T chung sống với nhau từ năm 2005, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.
[2.2] Bà H trình bày, sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do ông T không còn quan tâm, lo lắng cho gia đình, thường xuyên uống rượu, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không còn tin tưởng và tôn trọng nhau. Bà H yêu cầu được ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà án làm việc cũng như không tham gia phiên toà, không thể hiện ý chí muốn hàn gắn với bà H. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Phạm Ngọc Như X, sinh ngày 27/8/2009; Phạm Ngọc Huyền N, sinh ngày 04/8/2006; Phạm Ngọc Cát T, sinh ngày 20/11/2014. Hiện con chung Phạm Ngọc Huyền N, sinh ngày 04/8/2006 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Phạm Ngọc Như X, sinh ngày 27/8/2009, Phạm Ngọc Cát T, sinh ngày 20/11/2014, bà H yêu cầu được nuôi 02 cháu N X, Cát T, không yêu cầu cấp dưỡng. Quá trình làm việc, cháu N X, Cát T cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà H về việc nuôi con chung. Giao cháu Phạm Ngọc Như X, sinh ngày 27/8/2009, Phạm Ngọc Cát T, sinh ngày 20/11/2014 cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
[5] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 227; Điều 228, Điều 235, Điều 264 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 55, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Minh H với ông Phạm Anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Minh H được ly hôn với ông Phạm Anh T.
Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc Như X, sinh ngày 27/8/2009, Phạm Ngọc Cát T, sinh ngày 20/11/2014 cho bà H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Cháu Phạm Ngọc Huyền N, sinh ngày 04/8/2006 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ghi nhận bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Lê Minh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà H đã nộp theo biên lai thu số 0003498 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Võ Thanh Vy |
4
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Minh H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Phạm Anh T
