|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày 16-4-2025 V/v: Ly hôn, nuôi con chung giữa chị Hồng, anh Đông. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Lương Văn Tuấn.
- - Các Hội thẩm nhân dân: ông Trương Văn Luân và bà Trần Thị Nơi.
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 16-4-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19-3-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ ngày 08-4-2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992.
Địa chỉ: tổ A, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: anh Trần Văn Đ, sinh năm 1986.
Địa chỉ: tổ dân phố X - K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(chị H - có mặt, anh Đ vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: chị và và anh Đ kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 29-11-2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân từ tháng 6 năm 2016 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về nuôi con chung: chị và anh Đ có 02 con chung là Trần Hoàng L, sinh ngày 31-10-2012 và Trần Ngọc B, sinh ngày 27-3-2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân chị là người trực tiếp nuôi cháu B và sinh sống ở tỉnh Quảng Ninh còn anh Đ là người trực tiếp nuôi cháu L ở thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con chung Trần Ngọc B, anh Đ trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng L, chị và anh Đ không phải góp cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về chia tài sản và nợ chung: chị và anh Đ không có tài sản gì chung, không vay nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải bị đơn anh Trần Văn Đ trình bày:
Về hôn nhân: anh và chị H kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 29-11-2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì chị H đi xuất khẩu lao động, năm 2018 thì anh với cháu L về sinh sống ở thị trấn H, huyện H, từ khi chị H đi xuất khẩu lao động khi về thì chị H vẫn sinh sống ở tỉnh Quảng Ninh, anh và chị H không còn liên lạc gì với nhau. Nay chị H xin ly hôn, anh xác định vẫn còn tình cảm với chị H, anh mong muốn chị H rút đơn để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, trường hợp chị H vẫn cố tình xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận ly hôn với chị H.
Về nuôi con chung: anh và chị H có 02 con chung là Trần Hoàng L, sinh ngày 31-10-2012 và Trần Ngọc B, sinh ngày 27-3-2016. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh cũng đồng ý để chị H trực tiếp nuôi cháu B, anh có trách nhiệm nuôi cháu L. Không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về chia tài sản và nợ chung: anh và chị H không có tài sản gì chung, không vay nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của cháu Trần Hoàng L trình bày: từ nhỏ cháu ở với bố và bà nội cháu, nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với bố cháu là Trần Văn Đ.
Tại biên bản lấy lời khai của cháu Trần Ngọc B trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguện vọng ở với mẹ cháu là Nguyễn Thị H.
Tại biên bản xác minh ngày 18-3-2025 đại diện tổ dân phố X- K, thị trấn H cung cấp cho Tòa án: sau khi kết hôn chị H và anh Đ sinh sống ở tỉnh Quảng Ninh nên tổ dân phố không nắm rõ mâu thuẫn của chị H và anh Đ. Từ năm 2016 tổ dân phố không thấy chị H đi cùng anh Đ về thăm gia đình, đến năm 2018 thì anh Đ và cháu L về sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX giải quyết: Về hôn nhân: xử cho chị H được ly hôn với anh Đ; về nuôi con chung: xử giao cho chị H trực tiếp nuôi con chung Trần Ngọc B, giao cho anh Đ trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng L, chị H và anh Đ không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị H, anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở; về chia tài sản chung: không xem xét giải quyết. Về án phí: chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Đ, anh Đ hiện cư trú tại tổ dân phố X - K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: anh Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: chị H và anh Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 29-11-2012, là hôn nhân hợp pháp. Chị H xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ tháng 6-2016 đến nay. Anh Đ xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn anh đề nghị hòa giải để vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái, nhưng anh cũng xác nhận từ năm 2017 khi chị H đi xuất khẩu lao động thì anh và chị H không còn liên lạc gì với nhau, nếu chị H vẫn cố tình xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận ly hôn với chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: vợ chồng chị H, anh Đ mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy cần xử cho ly hôn giữa chị H và anh Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con chung: chị H và anh Đ 02 con chung là Trần Hoàng L, sinh ngày 31-10-2012 và Trần Ngọc B, sinh ngày 27-3-2016. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì chị H là người trực tiếp nuôi cháu B và anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, đến nay các cháu đều khỏe mạnh, phát triển bình thường. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu B, anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu L, hai bên không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu L, cháu B. Để đảm bảo cho sự chăm sóc, nuôi dạy con chung của chị H, anh Đ và ổn định cuộc sống của các cháu như hiện tại, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi con chung Trần Ngọc B, giao cho anh Đ trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng L, không bên nào phải góp cấp dưỡng nuôi con cho bên nào là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về chia tài sản chung: chị H và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: chị H và anh Đ có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn Đ.
- 2.Về nuôi con chung: Giao cho cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Ngọc B, sinh ngày 27-3-2016, giao cho anh Đ trực tiếp nuôi con chung Trần Hoàng L, sinh ngày 31-10-2012. Chị H và anh Đ không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị H, anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Chị H, anh Đ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
- 3. Về chia tài sản chung: không xem xét giải quyết.
- 4. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000588 ngày 17-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị H đã nộp đủ tiền án phí).
- 5. Về quyền kháng cáo: chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16-4-2025), anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Văn Tuấn |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 16/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án LH giữa chị H và anh Đ
