|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14-3-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
Vinh, ngày 14 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dình
Bà Diệp Huyền Thảo
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 05 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44A/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- - Bị đơn: Chị TRANG THI TRAN, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số C I, A, C, GA C, USA.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn N trình bày:
Anh và chị T THI TRAN tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C vào ngày 09/5/2017. Sau khi kết hôn anh chị chung sống chung khoảng một tháng thì phát sinh mâu thuẫn, chị T về Mỹ. Lúc đầu, hai người có liên lạc với nhau nhưng từ tháng 3/2018 thì không còn liên lạc được với nhau.
Nay, anh N thấy hôn nhân không còn tình nghĩa vợ chồng, không có cơ hội để xây dựng hạnh phúc gia đình, địa lý cách xa nhau, không liên lạc được. Từ đó, anh yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh giải quyết cho anh được ly hôn với chị T THI TRAN, về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn : Chị TRANG THI TRAN vắng mặt không có lời trình bày.
Do anh Nguyễn Văn N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên vụ kiện đã được Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh Nguyễn Văn N và chị T THI TRAN kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa anh chị phát sinh mâu thuẫn, anh N yêu cầu ly hôn. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chính đáng, phù hợp với quy định của P nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N, về con chung, về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thẩm quyền: Anh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị TRANG THI TRAN, do chị T THI TRAN có nơi cư trú và làm việc tại Hoa Kỳ nên đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp thông báo cho bị đơn chị TRANG THI TRAN về việc thụ lý vụ án, thời gian hòa giải và xét xử nhưng không nhận được phản hồi của chị T THI TRAN. Anh N vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[3] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn N và chị T THI TRAN tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân huyện C vào ngày 09/5/2017 nên theo quy định của pháp luật, hôn nhân của anh N và chị T THI TRAN là hợp pháp được công nhận. Thời gian chung sống ngắn ngủi, chị T THI TRAN về Hoa Kỳ, giữa hai người không liên lạc trao đổi thông tin, anh chị ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng cuộc hôn nhân giữa chị T THI TRAN và anh N không đạt được mục đích đó. Hiện nay hai người ở hai nước khác nhau, không liên lạc trao đổi nên việc hàn gắn tình cảm gia đình là không thể thực hiện được. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh N, cho anh N và chị T THI TRAN ly hôn với nhau.
[4] Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn N khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Tại khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn” do đó, buộc anh N phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
[7] Về án phí: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, do đó, buộc Nguyễn Văn N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn N.
- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn N được ly hôn với chị T THI TRAN.
- Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Buộc anh Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0003994 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, anh N đã nộp đủ.
- Về án phí: Buộc anh Nguyễn văn N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003976 ngày 08/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, anh Nguyễn Văn N đã nộp đủ án phí.
Báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Long |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
