|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14/3/2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Thanh Phong
- Ông Nguyễn Phúc Hiếu
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hương - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- *. Nguyên đơn: Chị Chu Thị D, sinh năm 1980;
- Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- *. Bị đơn: anh Nguyễn Hồng T, sinh năm 1980;
- Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
- Chị D, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Chu Thị D và bị đơn anh Nguyễn Hồng T thống nhất trình bày:
- *. Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T chung sống với nhau từ năm 2001. Nhưng do sơ suất chị D, anh T không đăng ký kết hôn theo quy định. Trước khi về chung sống hai bên tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình thừa nhận, khi đó chị D, anh T đều chưa từng đăng ký hết hôn với ai. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hòa thuận, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình ngày càng không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm. Đến năm 2024 thì anh, chị không chung sống cùng nhau nữa. Nay hai bên đều xét thấy tình cảm không còn, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho anh, chị được ly hôn hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật.
- *. Về con chung: Chị D và anh T đều xác định có 02 con chung là Nguyễn Hồng H, sinh ngày 02/12/2001 và Nguyễn Hải L, sinh ngày 23/9/2008. Nay hai bên thống nhất thỏa thuận: Cháu Nguyễn Hồng H, sinh ngày 02/12/2001 đã thành niên, không đề nghị giải quyết. Cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 23/9/2008 chị D sẽ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu L (chị D không yêu cầu).
- *. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị D và anh T đều thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ - QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 11; Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình 2000; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 23/9/2008 cho chị Chu Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu L (chị D không yêu cầu). Cháu Nguyễn Hồng H, sinh ngày 02/12/2001 đã thành niên. Nên không đặt ra giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị D và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí sơ thẩm: Chị Chu Thị D phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Chu Thị D và bị đơn anh Nguyễn Hồng T đều có hộ khẩu thường trú tại khu G, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
[1.2]. Về việc đưa vụ án ra xét xử: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, các đương sự đều thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Tuy nhiên, xác định chị D, anh T chung sống với nhau từ năm 2001 không đăng ký kết hôn. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị D và anh T theo quy định của pháp luật.
[1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Chu Thị D và bị đơn anh Nguyễn Hồng T đều đã có bản tự khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải. Chị D và anh T đều có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định là phù hợp.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của chị D, anh T và của chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú có thể khẳng định: Chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T có chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2001 đến tháng 12/2024 trên có sở tự nguyện, công khai, được hai bên gia đình thừa nhận, nhưng do sơ suất nên không đăng ký kết hôn tại UBND xã X theo quy định. Như vậy, chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T chung sống với nhau như vợ chồng từ sau ngày 01/01/2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ - QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì việc chung sống giữa chị D và anh T không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn đến tháng 12/2024 thì không chung sống (ly thân) từ đó đến nay. Nay hai bên đều thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng. Xét nguyện vọng của 2 bên hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống và phù hợp với quy định của pháp luật.
Do vậy, cần xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T.
[2.2]. Về con chung: Chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T đều xác định quá trình chung sống có 02 con chung là Nguyễn Hồng H, sinh ngày 02/12/2001 và Nguyễn Hải L, sinh ngày 23/9/2008.
Nay hai bên thỏa thuận: Cháu Nguyễn Hồng H, sinh ngày 02/12/2001 đã thành niên, không đề nghị giải quyết và giao cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 23/9/2008 cho chị Chu Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu L (chị D không yêu cầu).
Xét sự thỏa thuận của chị D, anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của con chung. Nên Hội đồng xét xử cần công nhận sự thỏa thuận về con chung giữa chị D và anh T.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T đều không đề nghị giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Chu Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ - QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 11; Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình 2000; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị D, anh T: Giao cháu Nguyễn Hải L, sinh ngày 23/9/2008 cho chị Chu Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi cháu L. Cháu Nguyễn Hồng H, sinh ngày 02/12/2001 đã thành niên, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung, tài sản cho vay chung, công sức đóng góp: Chị Chu Thị D và anh Nguyễn Hồng T không đề nghị giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Chu Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000798 ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Chị D đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh T có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật không ai được cản trở.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Đình Yên |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị D xin ly hôn anh T
