|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-6-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Ngọc Tấn;
- Bà Nguyễn Thị Kim Tước.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Huế Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 61/2025/TLST-HN, ngày 14 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 5 năm 2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/6/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị P, sinh năm 1992; (Vắng mặt)
- Trú tại: ấp A, xã P, thị xã L, tỉnh Bạc Liêu.
- - Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1986; (Vắng mặt)
- Trú tại: Khu vực A, phường P, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị P trình bày:
Bà và ông T quen biết và tự nguyện kết hôn năm 2018, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn kéo dài ngày một trầm trọng dẫn đến bà và ông T đã sống ly thân được một thời gian. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn Trần Văn T.
Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung tên là Trần Văn K (nam), sinh ngày 07/5/2020. Con chung hiện nay đang sống chung với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án; không cung cấp lời khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa hôm nay ông T cũng vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại theo Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn Võ Thị P được ly hôn với bị đơn Trần Văn T. Về con chung: Giao cho bà Võ Thị P được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Văn K (nam), sinh ngày 07/5/2020 cho đến khi trưởng thành, Bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông T quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Ông bà được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; nhưng trong quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do xuất phát từ việc tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày một trầm trọng nên nguyên đơn và bị đơn hiện nay đã sống ly thân. Hiện nay Bà P và ông T mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhận thấy Bà P và ông T đã không sống chung trong một thời gian dài, ông bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Võ Thị P được ly hôn với ông Trần Văn T theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Có 01 con chung tên là Trần Văn K (nam), sinh ngày 07/5/2020 hiện do nguyên đơn nuôi dưỡng, từ khi nguyên đơn và bị đơn ly thân đến nay con chung ở với nguyên đơn, cuộc sống của cháu đã ổn định. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung tên là Trần Văn K (nam), sinh ngày 07/5/2020 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Bà P không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông T không ai được quyền cản trở.
- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn bà Võ Thị P được ly hôn với bị đơn ông Trần Văn T.
-
Về con chung: Giao con chung tên là Trần Văn K (nam), sinh ngày 07/5/2020 cho nguyên đơn bà V Thị P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung nên bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Trần Văn T không ai được quyền cản trở.
- Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị P phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001298 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Cương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Thị Kim Tước |
Huỳnh Ngọc Tấn |
Huỳnh Kim Cương |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NGÃ BẢY, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn bà Võ Thị P được ly hôn với bị đơn ông Trần Văn T. 2. Về con chung: Giao con chung tên là Trần Văn K (nam), sinh ngày 07/5/2020 cho nguyên đơn bà Võ Thị P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung nên bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Trần Văn T không ai được quyền cản trở. 3. Tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. 4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. 5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Võ Thị P phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001298 ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm. 6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. 7. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
