Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13-02-2025

V/v Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Len;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1992;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ hiện nay: Số nhà A P, phố C, tỉnh Trnava, S.

Số định danh cá nhân 034192013956.

Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1987;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ hiện nay: Slovakia (Hiện đang nghỉ phép tại Việt Nam).

Số định danh cá nhân 034087022918.

Số hộ chiếu C2320643 do Cục Q cấp ngày 23/09/2016.

(Chị T, anh H vắng mặt, đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2024 và Bản tự khai của nguyên đơn chị Vũ Thị T yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân với anh Trần Văn H và trình bày như sau:

Chị và anh Trần Văn H tự nguyện tìm hiểu và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 01/12/2014. Sau khi kết hôn được một thời gian, vợ chồng chị xuất khẩu lao động tại Slovakia đến nay. Thời gian đầu hôn nhân, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc nhưng sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh H cờ bạc, liên tục gây sự, không có trách nhiệm với vợ con, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H vẫn không thay đổi khiến cho tình cảm vợ chồng không còn như trước, đến năm 2021, vợ chồng bắt đầu sống ly thân. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau để giải quyết nhưng mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cuộc sống vợ chồng không có nhiều tiến triển. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung là Trần Bảo A, sinh ngày 17/7/2015. Hiện nay, con Bảo A đang ở với ông bà nội là ông Trần Văn P và bà Trần Thị T1 tại địa chỉ Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, chị T đề nghị Toà án giao con Bảo A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng hoặc do con Bảo A tự quyết định, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Chị T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

* Tại Bản tự khai anh Trần Văn H trình bày như sau:

Anh và chị Vũ Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình ngày 01/12/2014. Sau đó, vợ chồng đều đi lao động tại Slovakia, hiện nay cả hai vẫn làm việc ở Slovakia. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc nhưng mấy năm sau cả hai phát sinh mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã.

Nguyên nhân của mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cả hai không ai quan tâm, hỏi han đến nhau. Tuy đã được hòa giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Nay xác định tình cảm giữa anh và chị T không còn, chị T xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là cháu Trần Bảo A, sinh ngày 17/7/2015. Hiện nay, con Bảo A đang sống cùng bố mẹ đẻ của anh là ông Trần Văn P và bà Trần Thị T1 tại địa chỉ Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao con chung cho anh là người trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian anh ở nước ngoài, anh ủy quyền cho mẹ đẻ anh là bà Trần Thị T1 thay anh trông nom, chăm sóc cháu Bảo A cho đến khi anh về nước. Về cấp dưỡng nuôi con, vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

* Bà Trần Thị T1, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (mẹ đẻ của anh Trần Văn H) trình bày:

Anh H và chị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 01/12/2014.

Anh H và chị T có 01 con chung là Trần Bảo A, sinh ngày 17/7/2015. Hiện nay, cháu Bảo A đang ở với vợ chồng ông bà tại địa chỉ Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Nếu anh H và chị T ly hôn, bà đề nghị Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Do anh H đang sinh sống và làm việc tại Slovakia nên bà đề nghị Tòa án gửi các văn bản, giấy tờ cho bà và bà cam kết sẽ thông báo nội dung và gửi ngay văn bản cho anh H. Trong thời gian anh H ở nước ngoài, bà đồng ý nhận ủy quyền của anh H chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bảo A cho đến khi anh H về nước. Bà không yêu cầu anh H thanh toán cho bà khoản chi phí nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình.

- Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Vũ Thị T ly hôn anh Trần Văn H. Về quan hệ con chung: Đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao con chung Trần Bảo A, sinh ngày 17/7/2015 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng các đương sự tự thỏa thuận nên không đặt ra giải quyết. Chấp nhận việc bà Trần Thị T1 thay anh H chăm sóc con Bảo A trong thời gian anh H ở nước ngoài. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án chị Vũ Thị T xin ly hôn anh Trần Văn H theo thủ tục chung, chị T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn như cung cấp bản tự khai, cung cấp các chứng cứ chứng minh và có đơn đề nghị Toà án không hòa giải, đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn H đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án, trong thời gian xin nghỉ phép tại Việt Nam, anh H đã cung cấp bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt cho Tòa án. Chị T và anh H đều đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn thì thấy:

[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị T và anh Trần Văn H được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 01/12/2014 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh H chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn như trước, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Sau nhiều lần hàn gắn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không có nhiều tiến triển, hạnh phúc không còn. Điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xin ly hôn, anh H đồng thuận. Do anh H và chị T đều ở Slovakia, không thể đến Tòa án để tham gia hòa giải và thỏa thuận ly hôn nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị T, xử cho chị T ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị T, anh H có 01 con chung là Trần Bảo A, sinh ngày 17/7/2015, hiện nay, con chung đang ở với bố mẹ đẻ anh H tại địa chỉ Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc để con chung tự quyết định, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thực tế, con Bảo A đang ở cùng với bố mẹ đẻ anh H, có nguyện vọng được ở cùng với bố và ông, bà nội. Bà Trần Thị T1 (mẹ đẻ anh H) đồng ý chăm sóc, nuôi dưỡng con Bảo A giúp anh H trong thời gian anh H đi lao động ở nước ngoài. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, xem xét đến nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con Bảo A cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị T, anh H đều đề nghị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và tiền cấp dưỡng nuôi con chung được giải quyết khi các bên đương sự có đơn yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị T được ly hôn anh Trần Văn H.

[2] Về quan hệ con chung: Xử giao con chung Trần Bảo A sinh ngày 17/7/2015 cho anh Trần Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận việc anh H ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Trần Thị T1, địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình chăm sóc, nuôi dưỡng con Bảo A đến khi anh H về Việt Nam.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Chị T, anh H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[3] Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000394 ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí..

[5] Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị T, anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Hành chính tư pháp./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thị Thúy Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị T - Trần Văn H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger