Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11-04 - 2025

V/v “ Không công nhận vợ chồng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Nguyễn Đắc Hưng
  2. Ông: Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2025 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXX-ST ngày 27 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Trần Công N - Sinh năm: 1976
  • - Bị đơn: Chị Trần Thị H – Sinh năm: 1977
  • Đều có địa chỉ: TDP C, phường H, tx. N, tỉnh Thanh Hóa.

Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án anh Trần Công N trình bày như sau: Anh và chị H tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995, nhưng không đăng ký kết hôn với nhau. Quá trình chung sống thời gian đầu thì hạnh phúc, sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, lối sống không hợp nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Đến năm 2010 anh và cô H sống ly thân cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và cô H.

Quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị H có quan điểm như sau: Chị và anh N tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức đám cưới vào năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, lối sống không hợp nhau. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay chị đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Ngọc

Về con chung: Anh chị có 03 con chung: Trần Công Q – Sinh ngày: 10/01/1996, Trần Thị N1 – Sinh ngày: 13/02/1998, Trần Thị H1 – Sinh ngày: 13/02/2000. Hiện nay, các cháu đã trưởng thành và có khả năng lao động nên anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 9, 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Công N và chị Trần Thị H. Về con chung: Các cháu đã lớn và trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc anh N phải nộp án phí dân sự về việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Công N khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa anh và chị H là tranh chấp theo quy định tại khoản 8 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn nhưng các đương sự đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh N và chị H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại đơn khởi kiện và biên bản ghi lời khai cả anh N và chị H đều trình bày vợ chồng anh chị có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn. Cả anh N và chị M đều thừa nhận quá trình chung sống anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2010 ho đến nay. Nay anh N đề nghị Tòa án tuyên bố anh và chị H không có quan hệ vợ chồng.

Theo Công văn số 232 ngày 09 tháng 4 năm 2025, của UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa cho biết, qua rà soát hồ sơ lưu trữ từ năm 2005 đến nay tại UBND phường H không có thông tin đăng ký kết hôn của ông Trần Công N và bà Trần Thị H. Đối với thời gian từ năm 2005 trở về trước thì không có hồ sơ lưu.

Qua lời khai của các đương sự và công văn trả lời của UBND phường H, xác định không có các tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc anh N và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T là phường H, thị xã N, Thanh Hóa vì vậy không có căn cứ xác định chị H và anh N có đăng ký kết hôn nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Công N.

[3] Về con chung: anh N và chị H co 03 con chung là Trần Công Q – Sinh ngày: 10/01/1996, Trần Thị N1 – Sinh ngày: 13/02/1998, Trần Thị H1 – Sinh ngày: 13/02/2000. Hiện nay, các cháu đã trưởng thành và có khả năng lao động nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc anh N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 8 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Công N

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Công N và chị Trần Thị H.
  2. Về con chung: Anh N2 và chị H có 03 con chung là Trần Công Q – Sinh ngày: 10/01/1996, Trần Thị N1 – Sinh ngày: 13/02/1998, Trần Thị H1 – Sinh ngày: 13/02/2000. Hiện nay, các cháu đã trưởng thành và có khả năng lao động nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
  3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc anh N2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005985, ngày 13 tháng 03 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Anh N2 đã thi hành xong phần án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND phường Hải Thượng, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về không công nhận vợ chồng

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh và chị H tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995, nhưng không đăng ký kết hôn với nhau. Quá trình chung sống thời gian đầu thì hạnh phúc, sau đó vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, lối sống không hợp nhau dẫn đến cuộc sống không hạnh phúc. Đến năm 2010 anh và cô H sống ly thân cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và cô
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger