Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - BẮC NINH

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày 10/12/2025

V/v: Tranh chấp về HNGĐ giữa

anh Mạnh và chị Huệ.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, ông Trần Giai Thưởng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh: Ông Nguyễn Huy Tôn, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLST-HNGĐ, ngày 14/10/2025 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1999 (có mặt).

Trú tại: Tổ dân phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 2004 (xin vắng mặt).

Trú tại: Tổ dân phố N, phường T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/9/2025 và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là anh Nguyễn Đức M trình bày: Anh kết hôn với chị H ngày 04/6/2024, có được tìm hiểu và tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thị xã T (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh). Cưới xong chị H về nhà anh sinh sống và làm ăn ngay, vợ chồng ở chung với gia đình chồng.

Quá trình chung sống vợ chồng không được hòa thuận, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Anh và chị H đã yêu nhau từ lâu, đến tháng 02/2024 thì chia tay. Tháng 5/2024 chị H liên lạc lại với anh và nói đã có bầu 05 tháng với anh. Anh quyết định quay lại để tổ chức đám cưới với chị H. Khi chị H nói có thai anh đã nghi ngờ đây không phải con của anh, tuy nhiên do hai bên gia đình tác động và phân tích nên anh quyết định lấy chị H. Quá trình sống chung vợ chồng không được hòa thuận, thường xuyên cãi vã nhau vì những chuyện vặt trong cuộc sống.

Ngày 03/9/2024, chị H sinh bé gái. Ngày 04/9/2024, anh lén lấy mẫu máu của cháu đi xét nghiệm ADN với anh tại Công ty TNHH D. Ngày 06/9/2024 có kết quả cháu bé không phải con ruột của anh. Việc anh làm xét nghiệm tại công ty D là anh làm giấu gia đình, không ai biết.

Ngày 08/9/2024, anh đón chị H và cháu bé về nhà, tối cùng ngày anh gọi hai bên gia đình lên nói chuyện và yêu cầu đưa cháu bé đi xét nhiệm ADN nhưng chị H không đồng ý và bỏ về nhà ngoại sinh sống.

Cuối tháng 9/2024, anh đã liên hệ với công ty X về tận nhà chị H lấy mẫu máu của con để làm thủ tục nhưng khi đến nơi thì cả chị H và bố mẹ chị H đều không đồng ý, cho rằng anh nghi ngờ vô cớ và đuổi anh về nhà. Anh cũng đã mang giấy xét nghiệm của Công ty D cho chị H và gia đình xem nhưng gia đình chị H cho rằng anh làm giả giấy tờ và đuổi anh đi. Từ đó anh đã không còn xuống nhà chị H hỏi han hay thăm nom gì chị H và con nữa. Hiện nay cháu bé chỉ có Giấy chứng sinh của bệnh viện, chưa được khai sinh. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Anh xác định không thể tiếp tục chung sống với chị H được vì vợ chồng không còn tình cảm, anh đề nghị được ly hôn chị H.

- Về con chung: Anh xác định vợ chồng không có con chung. Cháu gái do chị H sinh ngày 03/9/2024 không phải con của anh, con của ai thì anh không biết.

Vì cháu bé là con riêng của chị H nên chị H phải có trách nhiệm nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung, công nợ: Anh trình bày không có.

Phía bị đơn là chị Đỗ Thị H trình bày: Chị xác nhận một phần lời khai của anh M về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng không được hòa thuận. Nguyên nhân là do anh M thường xuyên đi chơi về khuya, không quan tâm gì đến chị. Quá trình chị mang thai nhưng anh M cũng không chăm sóc, hỏi han chị. Vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung.

Ngày 03/9/2024, chị sinh con, 5 ngày sau chị xuất viện anh M nghi ngờ con chị sinh ra không phải con của anh M và đòi đưa con đi xét nhiệm ADN nhưng chị không đồng ý. Anh M và gia đình gây sức ép lên gia đình chị. Cuối tháng 9/2024, chị đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống. Sau đó anh M không gọi chị về tiếp tục chung sống mà chỉ xuống thăm con 1 - 2 lần, anh M cũng không gửi tiền cho chị nuôi con. Anh M đã dẫn người xuống nhà chị để làm xét nhiệm ADN nhưng chị không đồng ý làm xét nhiệm do con chị còn quá nhỏ, chị đề nghị đợi con đủ 03 tháng thì làm xét nhiệm nhưng anh M không đồng ý, vợ chồng không thống nhất được. Kể từ đó đến nay anh M không còn hỏi thăm mẹ con chị. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Nay, anh M xin ly hôn, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị cũng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu gái do chị sinh ngày 03/9/2024. Hiện tại con vẫn khỏe mạnh và đang ở với chị, cháu chưa làm giấy khai sinh nhưng trên giấy chứng sinh xác định anh M và chị là cha mẹ của cháu. Chị cũng xác nhận anh M chính là cha của cháu bé nhưng chị không đồng ý làm xét nhiệm ADN do gia đình anh M không quan tâm, hỏi han con, chị cũng không muốn con vướng bận với gia đình anh M. Khi ly hôn, chị xin nuôi con, không đề nghị anh M cấp dưỡng.

Trường hợp anh M đề nghị Tòa án xác định cháu bé do chị sinh ra vào ngày 03/9/2024 không phải là con của anh M thì chị cũng đồng ý.

- Về tài sản chung, công nợ: Chị trình bày không có.

Vì lý do công việc và con nhỏ chị không thể có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập được, chị đề nghị được vắng mặt trong các buổi làm việc và xét xử.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điều 28, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 88, 89, 101 Luật hôn nhân gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

  • - Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Đức M. Xử cho anh Nguyễn Đức M được ly hôn với chị Đỗ Thị H.
  • - Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Đức M về việc xác định cháu Nguyễn Khánh L không phải con của anh Nguyễn Đức M.
  • - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh L cho chị Đỗ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  • - Về tài sản chung, công nợ chung và cấp dưỡng nuôi con: Do các bên không đề nghị nên không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Anh M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Đức M xin ly hôn chị Đỗ Thị H, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình và Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1, điều 28; điều 35; điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Anh M kết hôn với chị H ngày 04/6/2024, đã tuân đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng không được hòa thuận. Phía anh M trình bày cháu gái do chị H sinh ra ngày 03/9/2024 không phải là con của anh. Ngày 04/9/2024, anh đã giấu gia đình, lén lấy mẫu máu của cháu bé để làm xét nhiệm tại Công ty TNHH D. Ngày 06/9/2024 có kết quả xác định cháu bé không phải con đẻ của anh. Anh M đã nhiều lần đề nghị chị H đưa cháu bé đi xét nghiệm ADN lại nhưng chị H và gia đình chị H đều không đồng ý. Từ đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn với nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay. Phía chị H trình bày anh M thường xuyên đi chơi về khuya, không quan tâm đến chị. Khi chị mang thai nhưng anh M cũng không chăm sóc, hỏi han chị. Anh M còn nghi ngờ cháu bé do chị sinh ra không phải con của anh M. Từ đó vợ chồng nhiều lần phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung. Nay anh M xin ly hôn thì chị cũng đồng ý.

Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh M, chị H là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn về sinh hoạt hàng ngày, về con chung. Mâu thuẫn xảy ra nhiều lần nhưng không thể giải quyết được. Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh M xin ly hôn chị H đồng ý. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp pháp luật, cần chấp nhận.

Về con chung: Ngày 03/9/2024 chị H sinh một cháu gái, hiện nay cháu vẫn chưa được khai sinh. Ngày 04/9/2024, anh M tự ý lấy mẫu máu của cháu bé mang đi xét nhiệm ADN. Tại kết quả xét nghiệm ADN ngày 06/9/2024 của Công ty TNHH D đã kết luận anh M và cháu bé không có quan hệ huyết thống cha con. Chị H vẫn xác định cháu bé là con đẻ của anh M và không đồng ý với kết quả xét nhiệm ADN do anh M cung cấp.

Xét thấy, việc anh M tự ý lấy mẫu máu của cháu bé đi xét nhiệm ADN mà chị H không biết, chị H cũng không thừa nhận kết quả xét nhiệm ADN của Công ty TNHH D do anh M cung cấp. Do đó, kết quả ADN do anh M giao nộp không có giá trị pháp lý.

Ngày 18/11/2025, Tòa án đã giải thích cho anh M việc anh M tự ý đi làm xét nghiệm mà không cho chị H biết là không đủ căn cứ chứng minh kết quả xét nghiệm ADN do anh M cung cấp cho Tòa án là hợp pháp. Tòa án đã hướng dẫn anh M làm đơn đề nghị Tòa án tiến hành giám định lại ADN giữa anh M và cháu bé do chị H sinh vào ngày 03/9/2024 nhưng anh M không đồng ý và cho rằng kết quả xét nhiệm của anh M là chính xác.

Xét thấy: Anh M kết hôn với chị H ngày 04/6/2024, do đó hôn nhân giữa anh M và chị H là hợp pháp kể từ ngày 04/6/2024. Ngày 03/9/2024 chị H sinh 01 cháu gái. Như vậy, cháu bé do chị H sinh ra là trong thời kỳ quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị H.

Tại khoản 1, Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng...”. Quá trình giải quyết vụ án, ngoài kết quả xét nhiệm ADN mà anh M giao nộp cho Tòa án ra, anh M không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ hợp pháp nào chứng minh cháu gái do chị H sinh ngày 03/9/2024 không phải là con của anh M. Do vậy, cần xác định cháu bé do chị H sinh ngày 03/9/2024 là con chung của anh M và chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con, xét thấy hiện nay chị H đang nuôi con, cháu vẫn mạnh khỏe và phát triển tốt, mặt khác cháu bé dưới 36 tháng tuổi, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, cần giao cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự trình bày không có, nên không xem xét.

Chị H đề nghị được xét xử vắng mặt, xét yêu cầu của đương sự là phù hợp pháp luật, cần chấp nhận xét xử vắng mặt đương sự.

[3] Về án phí: Anh M phải chịu 300.000đ tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83, 88, 89, 101 Luật hôn nhân gia đình.

Căn cứ điều 235, 264, 266, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đức M được ly hôn với chị Đỗ Thị H.
  2. Về con chung: Xác định cháu gái do chị Đỗ Thị H sinh ngày 03/9/2024 là con chung của anh Nguyễn Đức M và chị Đỗ Thị H. Giao cho chị H tiếp tục nuôi con chung sinh ngày 03/9/2024. Việc cấp dưỡng nuôi con không có yêu cầu.
  3. Người không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  4. Về tài sản chung, công nợ: Không có.
  5. Về án phí: Anh M phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm (được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001691, ngày 14/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Bắc Ninh). Anh M đã nộp đủ tiền án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND khu vực 9 - BN.
  • - Phòng THADS khu vực 9 - BN.
  • - UBND p. Thuận Thành (số 67/2024).
  • - Người tham gia tố tụng.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trần Ngọc Anh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger