|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08-4-2025.
(V/v: Ly hôn, nuôi con chung).
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Hoàng Văn Tâm
- - Ông Dương Hồng Vinh
Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Duy Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Viết Diệu T – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/HNGĐST-QĐ ngày 19/3/2025 giữa:
- * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1989.
- Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện H, Bình Thuận.
- * Bị đơn: Ông Lê Nguyễn Anh T1 – sinh năm 1984.
- Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện H, Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn và bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T1 tự nguyện tìm hiểu, chung sống vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung, vợ chồng đến nay không còn yêu thương và tôn trọng nhau nữa. Từ tháng 10/2023 ông bà mạnh ai nấy sống và bà tự một mình đưa con ra phòng trọ sinh sống và nuôi con mà ông T1 không hề hỗ trợ. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
- Về con chung: bà khai có 01 con chung tên Lê Phúc T2 (nam), sinh ngày 06/7/2011. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà H trình bày: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và không ai quan tâm đến ai. Nay bà H yêu cầu yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1. Về con chung bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.
* Tại phiên tòa bị đơn Lê Nguyễn Anh T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà H trình bày về quá trình đăng ký kết hôn là đúng. Ông thừa nhận vợ chồng chung sống cũng không tránh khỏi mâu thuẫn do vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng nhau. Từ tháng 11/2023 cho đến nay bà H dẫn con rời khỏi nhà ra phòng trọ ở, vợ chồng sống ly thân nhau. Tuy nhiên bà H làm đơn ly hôn thì ông không muốn ly hôn nhưng trường hợp bà H cương quyết xin ly hôn ông thì ông đồng ý.
- Về con chung: ông, bà có 01 con chung tên Lê Phúc T2 (nam), sinh ngày 06/7/2011. Nếu đặt trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn ông đồng ý giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng tiền nuôi con chung nhưng ông sẽ có trách nhiệm với con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
- Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Lê Nguyễn Anh T1 là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào năm 2010. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do cách sống không hợp nhau, mâu thuẫn về quan điểm sống dẫn tới không tin tưởng nhau nên xảy ra cãi vả nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, ông bà đã tự sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2023, không ai quan tâm đến ai; Tại phiên tòa ông T1 cũng đồng ý ly hôn như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà H được ly hôn ông T1.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên tên Lê Phúc T2 (nam), sinh ngày 06/7/2011. Tại phiên tòa bà H, ông T1 thỏa thuận giao con chung Lê Phúc T2 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của bà H, ông T1 giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con: do bà H không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xét.
Về tài sản chung: Do bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông T1 không có đơn yêu cầu về phần tài sản chung nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
Về nợ chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Viện kiểm sát không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát huyện H, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn là ông Lê Nguyễn Anh T1 hiện cư trú tại xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Lê Nguyễn Anh T1 là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận vào ngày 05 tháng 12 năm 2010.
Quá trình giải quyết vụ án, ông bà đều thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân có xảy ra mâu thuẫn do cách sống không hợp nhau, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng không thấu hiểu, chia sẻ cho nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã hòa giải nhưng cả các đương sự không thể tiếp tục chung sống được với nhau. Ông, bà đều thừa nhận từ tháng 11/2023 cho đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Lê Nguyễn Anh T1.
[3] Về con chung: Ông T1, bà H khai có 01 con chung tên Lê Phúc T2 (nam), sinh ngày 06/7/2011. Sau khi ly hôn, ông bà thỏa thuận giao con chung Lê Phúc T2 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của các đương sự.
Ông T1, bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: do bà H không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, ông T1 không có đơn yêu cầu giải quyết về phần tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về phần nợ chung: Bà H, ông T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Lê Nguyễn Anh T1.
- - Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Lê Phúc T2 (nam), sinh ngày 06/7/2011 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Ông T1, bà H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
- - Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 20/01/2025, bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam thu theo biên lai số 0015201, nay chuyển sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.
- - Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/4/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa PHAN THỊ THÁI |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn ông Lê Nguyễn Anh T
